Ong Mật Và Mật Ong

Ong Mật Và Mật Ong

Thái Thụy Vy

Trịnh Công Sơn khi viết ca khúc “Lặng lẽ nơi nầy” có ví tình yêu như mật ngọt, mật ngọt trên môi và tình yêu mật đắng, mật đắng trong đời. Mật ngọt (miel) hay mật đắng (fiel) đều đúng với nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Như chúng ta đều biết túi mật (bile) nằm ngay dưới lá gan rất có ích trong việc tiêu hoá, nhưng nó rất đắng nên mới có thành ngữ “nằm gai nếm mật”, lại có ông nhà thơ chuyên môn làm thơ dập mật, có nghĩa là thơ cay đắng để đi bè với loại thơ chua, dùng để châm biếm thiên hạ. Loạn hơn nữa, có tạp chí lấy hẳn tên “Con Ong” để châm chọc các thói hư tật xấu, lâu lâu có “ông” (không phải “ong”) chích bậy bị kiện tụng rầy rà. Thật tội nghiệp cho loài ong hiền lương bị mang tiếng oan vì các ông đạo châm… chích nầy.  Hôm nay trong bài này tôi chỉ muốn nói đến loại ong mà sản phẩm cũng có thể làm chết …ruồi qua thành ngữ “ngọt mật chết ruồi”, đó là mật ong. Nói đến mật ong mà không nói đến con ong mật là một thiếu sót và là một bất công, và phải nói là viết về loài ong là một chuyện đầy kỳ thú, đầy ngạc nhiên thán phục.

Kiều nữ Melissa, là tên người đẹp có nghĩa là Ong Mật trong tiếng La tinh, tên Pháp là Abeille. Chắc nàng rất hiếu học nên được đặt tên chương trình Spelling Bee. Tình yêu nào chắc cũng đẹp… tuần lễ đầu nên mới có thành ngữ “Tuần trăng mật” (honeymoon, lune de miel).

 

Mật ong, trong lịch sử, đã là thức ăn của các bậc vua chúa, quyền quý, dùng để đi triều cống cùng với các bảo vật khác như ngà voi, sừng tê giác, trân châu, mã não; dùng trong các cuộc tế lễ, như lễ Rosh Hashanah (Tết Do Thái vào tháng chín dương lịch), tượng trưng những lời chúc tụng ngọt ngào cho suốt năm. Có truyền thuyết bảo rằng nữ hoàng Cléopâtre ở Ai Cập trẻ mãi không già là nhờ tắm mật ong. Mật ong còn là món ăn khoái khẩu nhất của loài gấu, có lẽ anh chàng này không biết sợ nọc độc hay vì ham ăn mà ở đâu có tổ ong là chúng trèo lên ăn cho tới lúc say, buông tay té lăn ra ngủ khò cho đến lúc tỉnh.

 

Nghề nuôi ong (épiculture) được ghi nhận trong kinh Vệ Đà của Ấn độ, kinh Koran của Mohamed, và trong Quyển Thánh Kinh của Thiên Chúa giáo, cũng như đã được nhắc đến trong chuyện thần thoại Hy Lạp, từ thời Pliny, Aristotle đến thời Huber và Fabre.

 

I- Phân loại ong:

 

Ong ruồi; ong bầu (bumble bee) là loại ong hiền mà thuở nhỏ tôi hay bắt để úp thùng thiếc nghe nó chơi nhạc (humming); ong vò vẽ (wasp, hornet, yellow jacket) là các loại ong dữ hay tấn công bất cứ ai khuấy phá chúng; ong cực độc (killer bee) được đem từ Phi châu qua thí nghiệm tại Ba Tây (Brazil), năm 1956, đã vượt thoát qua Bắc Mỹ và đã là thủ phạm chích chết sáu người tại Arizona và Texas. Cách đây bốn năm thấy chúng xuất hiện tại Los Angeles, San Diego thuộc California đến Las Vegas, Henderson, Laughlin thuộc Nevada, và Barstow, Yuma thuộc Arizona. Không những chúng làm hại người, chúng làm thiệt hại cả cho các loài ong mật nông nghiệp hiền lành khác. Các khoa học gia thì đổ tội cho EL Nino vì đem hơi ấm lên tận phía bắc để thảo mộc hoa lá sản xuất nhiều thực phẩm cho các loài côn trùng đánh hơi tràn theo. Chúng nổi tiếng thường tấn công hàng đàn đến 300 con và đuổi rượt nạn nhân tới kỳ cùng.

 

Tuy nhiên một số bác sĩ đã khám phá ra sự nhiệm mầu của nọc ong trong việc chữa trị bệnh viêm khớp cấp tính (acute rheumatoid arthritis) bằng cách cho ong chích nọc trực tiếp vào các khớp xương bị sưng. Kết quả rất là khích lệ.

Trong tất cả loài ong, loại ong tôi cho là tài tử chính trong bài này là loài Ong Mật, loại ong có ích nhất đã được loài người gia súc hóa (domesticated) mấy thế kỷ qua trong việc sản xuất mật ong kỹ nghệ, để chúng ta có vật liệu chế dược phẩm, thực phẩm và mỹ phẩm, cùng các phó sản khác như sáp ong dùng trong kỹ nghệ đèn cầy, phấn hoa (pollen) và tổ ong-tàn ong (propolis), sữa ong chúa (royal jelly) mà tôi sẽ đi vào chi tiết sau.

 

So với xã hội loài người là xã hội của sinh vật có trí tuệ (learned); xã hội loài ong kiến là xã hội của các loài động vật thuần về bản năng (instinct). Kể ra cả hai xã hội đều rất hoàn bị và đều có tổ chức rất chặt chẽ.  Xã hội loài người còn rất ít quốc gia theo chế độ quân chủ, như Vương quốc Anh, Vương quốc Bỉ, Vương quốc Thụy Điển, Vương quốc Monaco, Vương quốc Brunei, Vương quốc Thái Lan, Vương Quốc Đan Mạch, nhưng ít nhiều họ cũng còn có các cơ chế dân chủ.  Xã hội loài ong ngoài chế độ quân chủ gần như chuyên chế, chúng còn lạ lùng hơn xã hội loài người là chúng còn giữ chế độ mẫu hệ, mà nàng ong chúa cai trị thần dân kể cả các con ong đực chỉ giữ nhiệm vụ truyền giống, tuân phục quyền hành của nữ chúa như theo một mệnh lệnh thiêng liêng tuyệt đối nào đó. Nhìn vào một tổ ong cắt ngang (cross section), chúng ta phải ngạc nhiên thán phục làm sao chỉ với bản năng sinh tồn do di truyền, chúng đã khắc phục được thiên nhiên với các điều kiện môi sinh khắc nghiệt như vậy. Câu hỏi ở đây là không biết có trí tuệ dự phần trong việc tổ chức cơ cấu của một vương quốc thạnh trị, ngăn nắp, kỷ luật, cấp tiến và phồn thịnh như vậy hay không?

 

Quan sát một “làng” (colony) ong mật, chúng ta càng ngạc nhiên hơn về sự phân công rất là khoa học, áp dụng những kỹ thuật tân kỳ trong lối kiến trúc một ngôi nhà thoáng khí, toàn vật liệu nhẹ, cách nhiệt, biến chế từ thảo mộc, với độ nghiêng vừa phải để loài ong nhọng (larvae) khỏi bị rơi ra ngoài và kỹ thuật tạo hình lục giác cho mỗi phòng choán chỗ (space) rất ít mà vẫn giữ được sự riêng tư (privacy) cho từng cá nhân ong mật, theo từng tiêu chuẩn, từng giai cấp, ong chúa, ong đực và ong thợ, kho dự trữ lương thực, mật ong chứa riêng, phấn hoa chứa riêng, sáp chứa riêng, khu dưỡng nhi, khu thợ thuyền riêng, tổ ong chúa khang trang, hình đậu phọng được vít kín, khu ong đực thì có dấu hiệu riêng cửa vun tròn hình đầu viên đạn. Có lẽ học từ kinh nghiệm quý báu đó mà các kiến trúc sư của chúng ta mới nảy ý kiến kiến tạo ra các khu chung cư đông đúc cho giới còn độc thân và giới có lợi tức khiêm nhường.

 

II- Thành phần: Gia đình Ong Mật có ba thành phần, vai nào cũng cần thiết cho việc bảo tồn nòi giống ong mật:

 

A- Ong chúa (Queen Bee):  là con ong cái toàn vẹn nhất trong tổ và thực sự là mẹ của chúng. Nhiệm vụ duy nhất của nàng là đẻ trứng để duy trì nòi giống, giữ tinh thần tập thể, kỷ cương của đại gia đình. Dáng nàng to lớn hơn các nàng ong thợ nhưng so với ong đực thì không lớn hơn bao nhiêu. Thân của nàng dài hơn thân thể ong thợ nhưng đôi cánh thì hơi ngắn so với thân và dài nhọn đàng cuối đuôi. Nọc của nàng hình cong và chỉ dùng trong việc chiến đấu và tiêu diệt các ong chúa địch thủ.

 

Khi nàng được chừng năm sáu ngày, nàng trẩy hội chuyến bay du hí trăng mật (vol nuptial) để làm tình với các đấng ong đực trong lúc đang bay. Sau khi thụ tinh nàng giữ túi tinh trùng như thế cho đến mãn đời, mặc dù thường thì nàng chỉ thọ có ba hoặc bốn năm thôi. Vài ngày sau, nếu nàng mắn đẻ (féconde), nàng có thể đẻ tới ba ngàn trứng mỗi ngày. Nàng đẻ đều đặn như thế từ tháng giêng cho đến tháng mười một, vào các ô dành cho việc dưỡng nhi. Qua đầu mùa xuân thì nàng bớt đẻ sai, cho đến lúc cây trái ra hoa quả và tổ có thêm nhiều mật và phấn hoa thì nàng lại lấy trớn đẻ sai lại.

Buồng trứng của nàng ong chúa chiếm phần lớn thân mình nàng, có hình dáng hai quả lê, một quả chứa trứng, một quả chứa tinh dịch của ong đực, gồm có nhiều ống dẫn. Trứng chứa ở phần trên của đầu ống dẫn, đi vào âm đạo qua ngã ống dẫn trứng. Tất cả trứng đều phải đi ngang ống dẫn túi chứa tinh dịch (spermatheca) nhưng không bảo đảm là tất cả các trứng đều được thụ tinh. Mỗi trứng thụ tinh sẽ cho ấu trùng ong chúa hoặc ong thợ, trong lúc trứng không được thụ tinh chỉ cho ấu trùng ong đực.

Nếu trong vòng ba tuần lễ đầu mà nàng ong chúa không chịu đực thì nàng sẽ mất hứng thú làm tình và chỉ sinh toàn trứng ong đực. Cũng như thế, nếu ong đực không đủ khả năng cung phụng hoặc nàng ong chúa bị lãnh cảm, hoặc bị hiếm muộn (sterilized, infertile) vì tuổi tác hay vì tai nạn, nàng sẽ bị mất giá, nên đương nhiên phải bị thay thế. Đời sống trung bình của ong chúa thường lâu gắp năm mươi lần các ong thợ.

Thật là cần thiết phải có một nàng ong chúa đẻ sai, nếu vì một lẽ gì đó nàng đẻ ít đi, ngay lập tức bọn ong thợ phải tìm một cái máy đẻ khác khác đầy đủ khả năng hơn. Việc đó đã được tiên liệu và dự trù bằng cách xây thêm xung quanh khu ong thợ các ô chứa ấu trùng ong chúa. Khả năng của loài ong sinh ra trứng nở ra con không cần thụ tinh chỉ có một ít trong các loài côn trùng được gọi là parthenogenesis, được khám phá bởi nhà bác học Dziezon.

Bọn quần thần ong thợ nuôi dưỡng vài ấu trùng đặc biệt thay vì thành ong thợ, nó sẽ thành ong chúa, bằng thức ăn riêng (tiểu táo) đặc chế từ mật ong dành cho các bậc vua chúa nên có vài tác giả ngộ nhận (misnomer) gọi là sữa ong chúa (royal jelly), thức ăn đó lúc nào cũng cung cấp dồi dào trong suốt thời gian nàng biến thể (metamorphosis) để thành bà chúa. Còn đại táo là mật ong thường trộn cùng các loại phấn hoa biến cải vo thành hạt là thức ăn thô (pollen pellets, granules) chỉ để cho bọn dân giả ong thợ dùng mà thôi.

Bọn ong thợ còn nuôi một số ong chúa để dành trong các cuộc di cư tập thể (swarm) thành lập vương quốc mới. Con ong chúa nào ra đời trước lập tức phải tìm cách tiêu diệt các con ong chúa khác, bọn ong thợ thường phụ lực nàng trong cuộc tranh chấp ngôi chúa tể này, trừ phi chúng để dành vài ấu trùng ong chúa cho các cuộc lập quốc khác trong tương lai. Không hiểu bằng cách nào chúng biết rút tỉa kinh nghiệm của lịch sử là có thể xảy ra cảnh tranh dành quyền lực ngôi báu về sau nầy kiểu Tây Thái hậu và biết bao nhiêu triều đại của loài người đã mắc phải.

Chúng còn cẩn thận ít khi để ong chúa bay ra khỏi tổ, trừ chuyến bay trăng mật kể trên hoặc lúc dẫn đầu cuộc di cư lập quốc.

B- Ong đực (Drone): Ong đực thì ngắn gọn, vạm vỡ hơn ong chúa, cánh dài bằng thân mình. So với ong thợ thì chúng huê dạng hơn ong thợ, chúng chỉ giống nhau có một điểm là thân thể cả ba đều được che chở bằng một lớp áo lông ngắn mịn và nhuyễn. Và chúng luôn luôn ồn ào hơn bọn ong thợ mỗi lần chúng khua đôi cánh (buzzing). Cái lạ là bọn ong đực lại không có nọc, chúng cũng không hút mật và không chế tạo sáp ong và không động tới móng tay kể cả việc yểm trợ các công tác chung của cộng đồng. Nhiệm vụ chính và duy nhất là phục vụ ong chúa trong đêm trăng mật, và chúng chết ngay sau khi làm tình lần đầu và lần duy nhất. Trong số cả ngàn con đực, chỉ có một con duy nhất có được ân huệ “nhất dạ đế vương” đó mà thôi, chàng hoàng tử kiểng trai đó chắc chắn phải có đôi cánh khỏe nhất, đôi mắt sáng nhất, sung sức nhất, để có diễm phúc được một đêm ân ái tình tứ lãng mạn với vị vương hậu đa tình, vui đêm dạ vũ, du sơn du thủy, trút hết bầu tâm sự, ký thác cho ong chúa, xong buông tay, không ai buồn tìm xác, chôn cất. Vì sứ mạng của vị nữ chúa quá hệ trọng cho sự sống còn của vương quốc, không thể thiếu vắng bất cứ lúc nào, và các hiểm nguy của môi sinh trong chuyến bay động tình, nên cần phải có đầy đủ trong tam cung lục viện số ngàn “cung phi”… đực tốt giống để cung ứng cho nữ chúa vào mùa xuân.

Xong phận sự làm trai… lơ, hoặc sau cuộc di cư, hoặc hoa màu mật kém, các đấng ong đực bị đám ong thợ cái tiêu diệt không xót thương. Tội nghiệp thay các đấng mày râu trong chế độ mẫu hệ. Trong trường hợp con ong chúa chết hoặc đi lạc, bọn ong đực may mắn lúc đó được giữ lại lâu hơn, vì nếu thiếu ong đực, nàng ong chúa trẻ mới sẽ thành vô tự và vương quốc sẽ đi đến họa diệt vong.  Đầu con ong đực to hơn, mắt lồi có hình trăng khuyết ở hai bên phía đầu để thấy được nhiều góc cạnh, gồm 25,000 vi kính (facets) mà các khoa học gia bảo là để dễ tìm ong chúa trong chuyến bay đêm tân hôn. Còn ba điểm nhỏ ở đỉnh đầu nằm thành hình tam giác, cả ong chúa và ong thợ cũng có, là con mắt nhỏ, gọi là ocelli, dùng để nhìn gần và nhìn trong bóng tối của tổ ong.  Tuổi thọ của ong đực trung bình là 24 ngày, chúng bị đào thải vào mùa thu, không con nào tồn tại đến mùa đông.  Có một điều lạ lùng! Ong đực không bao giờ làm tình với bọn ong thợ cái. Không biết theo một quy luật khắt khe sinh tử nào đó của cấm thành; có lẽ vì dành độc quyền cho ong chúa, hay có lẽ vì ong đực biết chúng chỉ có thể làm chuyện… ong bướm có một lần rồi bỏ xác. Trên thực tế, vô hình chung, chúng biến tất cả các nàng ong thợ mơn mởn đào tơ thành hoạn quan …cái (eunuchs), cả một triều đại ong trinh nữ phải chịu cảnh không chồng.

 

C- Ong thợ (Worker Bee): Có bốn giống ong mật được nuôi nhiều nhất như ong kỹ nghệ vì năng xuất cao là loại ong đen của Đức quốc (German brown or black bees), ong giống gốc Ý Đại Lợi (Italian bees), giống Cyprian và giống Carniolan. Tuổi thọ của ong thợ trung bình từ 35 tới 45 ngày trong mùa hè, có thể vài tháng trong mùa đông, chia ra hai toán theo mùa: toán ong thợ mùa hè và toán ong thợ mùa đông. Các ong thợ sinh vào mùa thu, không có việc làm ngoài tổ, có thể sống sót đợi đến mùa xuân. Sự phân công càng tinh vi hơn là toán ong thợ chia ra theo chức năng thành toán công tác nội thành (hive bee) như giữ vệ sinh, sạch sẽ doanh trại, giữ sự điều hoà nhiệt độ bên trong tổ, toán nuôi ấu trùng, toán chế biến sáp ong, toán kiến tạo tổ ong, toán chuyên chở thực phẩm tồn kho, toán giữ an ninh cổng ra vào doanh trại. Còn toán công tác ngoại thành (field bee) thì phụ trách hút nhụy hoa, hút mật, thu góp phấn hoa, và tiếp tế nguồn nước cho cả tổ. Tất cả sự phân công đó đám ong thợ cần mẫn (laborious, industrious) thực thi không sai chạy để bảo đảm sự an toàn, sự phúc lợi, cho chu kỳ sinh sản, và vấn đề sinh tử cho toàn tổ.

Trong lúc thi hành bổn phận công dân, loài ong không biết là có một giống người rất nặng ơn nặng nghĩa với loài ong, nhất là các nông dân, vì nếu không có loài ong mang nhụy hoa rắc lên các hoa khác thì nhiều loại cây trái ngũ cốc đã bị tuyệt chủng từ lâu, và hoa mầu trong vòng sinh hóa (food cycle) sẽ bị suy giảm trầm trọng cho nhân loại.

Trong cả ba loại ong, ong thợ là các ong cái chưa được phát triển đầy đủ, nhưng chúng lại đông đảo hơn cả và gồng gánh tất cả công việc nặng nhọc nhất của cộng đồng, kể cả việc chiến đấu bảo vệ tổ ấm. Trên thực chất nó là một chế độ dân chủ tiêu biểu vì chính đám ong thợ này cầm quyền chính và quyết định mọi sách lược kinh tế chung.

Bàn về mặt cơ thể học, thì ong thợ có sự cấu tạo rất kỳ thú, nhất là chi tiết của cái đầu, ong thợ có hàm miệng (mandible) trơn nhẵn, ngắn và dày, nhai theo chiều ngang khác với ong vò vẽ nhai theo chiều đứng, hàm ong mật đặc biệt không cần có răng mà chúng vẫn có thể dùng để xây tổ và vo sáp đúng khuôn khổ tạo tác, nhưng lại không thể cắt đứt vỏ các loại trái cây có da láng.

Lưỡi con ong thợ chia làm ba phần: ligula, palpi và maxillae. Phần giữa ligula, thì hủng như cái rãnh, có thể xếp lại dưới cằm (mentum), có ba cặp tuyến nước bọt nằm ở đầu và thân, cặp tuyến to nhất dùng trong việc sản xuất thức ăn cho ấu trùng. Hai cái râu (antennae, feelers) dài giống hai cái sừng, có khả năng nhạy như khứu giác, xúc giác và thính giác; nhờ hai cái râu này mà chúng nhận diện được giống loại cùng tông tộc giữa cái đám đông nghịt chằng chịt đó.

Theo ông Von Frisch, chuyên viên người Áo, phân tích sự thông tin (communicate) của bọn ong, bằng những cái vẫy đuôi, chạy vòng vòng trong tổ, là dấu hiệu chắc chắn là thời gian hoạt động đã đến: mật hoa đã sẵn sàng.  Cơ quan hô hấp của ong nằm ở ngực và bụng chỗ ba vòng phần thân của cơ thể.  Túi chứa mật, hay bao tử số một, ở phần bụng dưới, nó có thể tiêu hóa một phần mật hoa bằng cách đẩy qua bao tử số hai để tự dinh dưỡng hoặc đẩy trở về miệng để mang chứa vào kho cho buổi ăn kế tiếp.  Ong thợ có bốn cánh và sáu chân, tất cả đều nằm ở phần ngực. Cánh của chúng có thể xếp đè lên nhau dễ dàng để dễ bề ra vào phòng nuôi trẻ và kho lương thực. Lúc bay hai cặp cánh sẽ được móc dính vào nhau để tăng thêm diện tích phản lực gió, chân chúng thì có móng vuốt để bấu vào nhau dính thành chùm khi cần. – gần đầu móng có cái túi nhựa tiết ra chất keo dính để đậu vào các mặt phẳng trơn láng. Chân trước được trang bị một cái mấu dùng để chùi rửa râu giống như ở loài ruồi. Cặp chân thứ ba thì có một chỗ hổng mà ong đực và ong chúa không có, dùng làm rổ (pollen basket) đựng phấn hoa nuôi bầy trẻ, gọi là bánh mì của ong (bee bread).

Ong thợ cũng có một túi đựng trứng nhưng không phát triển đúng mức, tuy thỉnh thoảng chúng cũng có thể sinh ra vài trứng ong đực. Riêng nọc ong thợ thẳng và có kèm một túi nọc độc, dùng để tự vệ hoặc bảo vệ thôn làng. Khác nọc ong chúa có thể mọc đi mọc lại, nọc ong thợ chỉ xài có một lần, có nghĩa là nó tự gây thương tích để rồi chết sau đó. Thật tình thì chúng tự làm hao mòn vì làm việc công cho đến kiệt lực, chết khi chiến đấu, vì tai nạn dọc đường lúc công tác chứ ít khi chúng được chết trong tuổi già. Cho nên vì lẽ đó mà một làng vô chủ thiếu vắng ong chúa, mà ong thợ không được sinh sản thay thế bù vào chỗ mất mát hằng ngày, sẽ tự diệt thôi.

Từ trứng đến ong trưởng thành phải qua ba giai đoạn: trứng, ấu trùng và nhọng. Trứng được ong chúa đẻ vào đáy ô, ba ngày sau sẽ nở thành ấu trùng, chúng được nuôi nấng bởi ong thợ và tăng trưởng rất nhanh. Khi ấu trùng lớn vừa chật ô, ong thợ bèn dùng sáp vít kín lại ngay, và ấu trùng biến thành nhọng (chrysalis, pupa). Ong đực mất 24 ngày, ong thợ mất 21 ngày, còn ong chúa chỉ mất 15 ngày để trưởng thành.

Ong chúa được ong thợ bồi dưỡng, ngự theo chế độ ẩm thực do đầu bếp ong thợ chuyên nghiệp đặc chế từ mật ong có màu sữa gọi là royal jelly trong suốt quá trình biến thể (metamorphosis), trong lúc ong thợ và ong đực chỉ được nuôi với royal jelly trong ba bốn ngày đầu, sau đó chúng chỉ được ăn loại thực phẩm thô bằng mật ong trộn với phấn hoa kết hạt. Với mức tiêu thụ thực phẩm cho một dân số tăng nhanh, vấn đề tiếp vận được đặt ra hàng đầu, thực phẩm chẳng những phải đầy đủ, mà còn phải thặng dư để dự trữ cho mùa đông, có nghiã là ong thợ phải hoạt động không ngừng nghỉ. Nhờ vào bản năng sinh tồn đó mà các trại nuôi ong nông nghiệp mới khai thác thương mại hai sản phẩm được giới tiêu thụ ưa thích là mật ong và sáp ong cùng các sản phẩm hiếm có, bổ dưỡng và đắt tiền khác:

 

III – Sản phẩm của ong mật:

1) Mật ong (bee honey) : Mật ong là loại đường hữu cơ thiên nhiên đầu tiên mà loài người biết đến, cho đến thế kỷ 11 với sự phát minh các loại đường thực vật từ mía (sugar cane), từ củ cải (betterave, beet), vừa rẻ lại vừa thông dụng. Mật ong được làm từ thảo mộc mà nhiên liệu chính là mật hoa (nectar), tuy không được biến chế (unma-nufacturing) nhưng cũng đã trải qua tác dụng của các diếu tố (enzymes) trong cơ thể loài ong, nên có hương vị rất cá biệt. Mật hoa mới mang về tổ thường chứa 15 đến 20% lượng nước nên ong thợ phải quạt cho bay hơi nước làm đậm đặc lại rồi đem trữ vào các ô vít kín đợi cho mật chín mới được dùng.

Mật ong có thể chứa dến 80 chất khác nhau có ích cho sự dinh dưỡng.

Trong mật có 40% levulose và fructose tức đường trái cây, 34% dextrose hay đường nho, và 2% sucrose, glucose hay đường mía, là các loại monosaccharides. Ngoài ra mật ong còn chứa đựng một số sinh tố A, sinh tố B complex, sinh tố C,D,E và K. còn một lượng rất nhỏ đường dextrine, khoáng chất thì có magnesium, sulfur, phosphorous, iron, calcium, chlorine potassium, iodine, sodium, copper, manganese, và vết các chất khác, món quà bí mật của tạo hóa mà không khoa học gia nào định danh, tổng hợp và chế biến được.

Đặc biệt, trong mật ong còn có các diếu tố (enzymes) rất quan trọng trong việc điều hành của cơ thể. Số diếu tố chứa trong mật ong cao hơn bất cứ trong loại thực phẩm nào. Mật ong còn chứa proteins, carbohydrates, organic acids, kích thích tố (hormone), và chất kháng sinh (antibiotic).

Để sản xuất một cân Anh mật ong, ong mật phải lấy cở 75,000 lần mật hoa. Vị chi các chị ong mật phải bận rộn bay từ 4 tới sáu lần vòng quanh trái đất. Mỗi tổ (colony) sản xuất được 300lbs mật cho mỗi mùa, làm con toán sẽ thấy các cô thợ mẩn cán phải tiêu biết bao nhiêu là năng lượng (energy) và biết bao nhiêu công trình để chúng ta được hưởng một sản phẩm tuyệt hảo và bổ dưởng.

Mật ong được biết đến nhiều qua đặc tính và giá trị hiếm hoi của nó, nó không cần biến dưỡng trước khi được hấp thụ qua dòng máu nhờ các đường monosaccharides, nó được ca tụng như chất nhiều năng lượng giúp các lực sĩ bồi dưỡng bắp thịt và sức lực, nhất là khi mật ong được pha chế, phối hợp với các chất bổ dưỡng khác như sâm, nhung. Mật ong là chất sát trùng thiên nhiên, vì không vi trùng nào mọc nổi trong mật, cho nên mật ong để đến bao lâu cũng không hư mốc, chỉ đổi màu đậm hơn mà thôi. Trong thời đại chưa có thuốc trụ sinh, mật ong dùng trong việc băng bó các vết thương do chiến trận gây ra nhờ đặc tính sát trùng trên . Màu sắc và mùi hương của mật ong tùy thuộc vào loại mật hoa mà ong hút nhụy. Mật có thể từ màu trắng thủy tinh, vàng rơm rạ, nhạt đến đậm như hổ phách, mã não. Mật màu đậm thường được ưa thích hơn vì chứa nhiều khoáng chất. Mùi mật ong phần lớn tùy vào mùi của loại hoa nó thăm viếng, từ ngọt dịu tới ngọt gắt, còn vị cũng khác nhau tùy theo vị của loại nectar, nếu ong hút phải nhụy hoa cây gỗ lim, cây khổ qua, cây bittersweet thì mật đương nhiên sẽ có vị nhân nhẩn hoặc đăng đắng, còn honeydew trong cái tên có mật nhưng sẽ cho mật xấu vì ô nhiễm từ nhựa tiết ra bởi các loại ký sinh trùng. Các nguồn nectar khác mà ong thường hút là các hoa dại ở vùng sa mạc như xương rồng (cactus), mesquite, tupelo, gallberry, móng mèo (catclaw), Paloverde, clover trắng và alsike clover, linden, buckwheat, milkweed, raspberry, epilobium, aster, sunflower (hướng dương), tulip tree, sourwood (cây lá lụa chua ), gum, palmeto, mangrove, sage, manzanita, cleome, monarda, alfalfa, canola… Các loại hoa mầu ong ưa thích là hoa cam, hoa bưởi, hoa chanh và các loại citrus, các loại cây ăn trái… Thưòng thì mật hoa dại được coi như tinh khiết hơn vì không bị xịt thuốc hóa học trừ sâu bọ. Ong rất kỵ chất hóa học, nhất là chất fluvalinate, có trong thuốc trừ sâu Mavrik và Apistan. Một trại nuôi ong mật bên Pháp ở gần cánh đồng trồng hoa hướng dương (bông quỳ) để làm dầu ăn, khi trại chủ xịt thuốc trừ sâu, mức sản xuất mật của trại nuôi ong bỗng nhiên giảm đi quá nửa.

Phần lớn các loại mật ong kết tinh (crystalized, granulated) thành hạt lợn cợn sau vài tháng thu hoạch, mật nào chứa ít nước nhất thì kết tinh nhanh nhất. Mật kết tinh là một dấu hiệu chắc chắn mật nguyên chất, tinh khiết, không bị pha chế. Mật ong hoa xương rồng của vùng sa mạc Sonoran, Arizona được tin tưởng vì tinh khiết, nguyên chất, bay hơi nhờ sức nóng thiên nhiên, tuy có mắc hơn mật ong các nơi khác. Trong lúc mật lấy từ cây tupelo, rất ít thấy kết tinh vì lượng đường levulose cao và tỉ lệ dextrose quá thấp.

Mật ong dùng trong việc nấu nướng, nhất là làm bánh thay đường càng ngày càng được ưa chuộng vì vị ngọt thơm tho, không bị khô vì nó giữ nước, nên phải bớt lượng nước 1/4 , và nhiệt độ thấp hơn 25 độ so với bình thường để tránh dể bị cháy.

Mật ong còn rất công hiệu trong nhiều cách trị bệnh theo lối gia truyền, như lỡ miệng, trị sán, thối tai…

2)- Sáp ong (beewax)-sáp ong để làm vật liệu kiến tạo tổ do ong thợ phụ trách sản xuất bằng cách pha chế từ mật ong. Thân của ong thợ có sáu vòng nằm chồng lên nhau, ở mặt dưới của bốn trong sáu vòng trên là các hạch phẳng hình năm cạnh trong vắt, nơi đó sáp được điều chế qua một tiến trình tiêu hóa. Sự biến hóa đó tự động không do ý muốn bất cứ lúc nào bao tử ong bắt buộc chứa đầy mật trong một thời gian lâu dài, hoặc tùy theo luật cung cầu: nếu tổ còn dư nhiều phòng trống thì cơ quan tạo tác chậm lại, khi dân số hoặc hoa mầu lợi tức tăng, thì mức sản xuất sáp tăng nhanh để đáp ứng nhu cầu nới rộng, sửa chữa, vít kín tổ, và tồn kho số mật thặng dư.

Mỗi lần chuẩn bị cuộc di cư tập thể, bao tử mỗi con ong đều chứa đầy mật, cụ bị cho vật liệu xây cất tiền chế nhanh chóng ấp chiến lược mới, điều đó được cắt nghĩa khi chúng đến vị trí đã chọn, chúng thường đeo dính chùm bất động trong 24 tiếng đồng hồ, là để mật ong đủ thì giờ biến hóa thành sáp. Khu tổ ong thợ và ong đực được ngăn cách bằng một khu riêng biệt được gọi là khu trung gian, có hình thái to nhỏ không đồng đều, ngoài số ô như đã đánh số địa chỉ, có những tổ kiến trúc khác hẳn, hình tổ chim dòng dọc treo rải rác bên hông hai dãy ô của ong thợ và ong đực là dinh thự của các tiểu thơ ong chúa. Một tổ ong thường được xây dựng hai mặt chặp vào nhau độ nghiêng nhỏ như mái ngược, thành ra số đơn vị chung cư tăng gấp đôi. Ô nuôi trứng và nhọng ong đực lẫn ong thợ còn dùng làm kho chứa mật, ô ong thợ còn để chứa hạt phấn hoa.

Cứ mỗi 7 tới 15 cân mật mới chế được một cân sáp, nhiệt độ nóng quá có thể làm tổ ong mềm và tổ bị vỡ, cho nên khi nào bọn ong thợ nhôn nhao rung cánh là lúc chúng quạt cho tổ giữ được nhiệt độ thích nghi (ventilation). Lúc mới xây, tổ ong được lót bằng chất cách nhiệt mỏng gọi là tàn ong là phần trang trí bên trong tổ (interior decoration) màu trắng, với thời gian, chúng biến màu đục sậm theo màu mật và màu của phấn hoa. Tàn ong còn có giá trị dinh dưỡng về lâu về dài cho bọn ong trẻ. Nước cũng rất quan trọng cho tổ, dùng để pha chế thức ăn, vật liệu xây cất nhẹ. Bọn ong thợ chết đuối không ít khi đi lấy nước (chết vì nước!).

Ngày xưa các lễ rửa tội và các thánh lễ khác của các nhà thờ Roman Catholic đòi hỏi phải xử dụng đèn sáp ong thật 100% khi hành lễ, ngày nay vì số cung không đủ số cầu nên Vatican đã sửa đổi chỉ đòi hỏi được 51% đèn sáp ong.

Kỹ nghệ làm mỹ phẩm là kỹ nghệ tiêu thụ sáp ong cao nhất vì nó được làm dung dịch cơ bản cho việc chế tạo các loại kem (cold cream), nhờ ở đặc tính trong trắng và thuần khiết. Nó còn được dùng làm môi trường cho các loại ointment (pomade), sáp môi, kem màu và hơn 70 món khác, trước khi có mỡ cá voi. Mỗi năm ở Mỹ sản xuất độ 200 triệu cân mật ong và từ 4 tới 6 triệu cân sáp ong.

3)- Tàng ong (bee hive, bee propolis) – Vật liệu bằng sáp không bảo đảm, nên các “ong kỹ sư” phải tăng cường bằng cách thu thập các vật liệu bền bỉ hơn, từ các loại nhựa gỗ nơi các cành và búp. Chất nhựa dòn vào mùa đông nhưng dính chặt vào mùa nóng nên propolis rất tốt để ngăn ngừa các vết nứt, thu hẹp cửa nẻo, làm rắn chắc các chỗ tiếp giao của các bức tường, chúng được chuyên chở trong cái giỏ đựng pollen. Không lúc nào rỗi việc, nếu rảnh rỗi, chúng mang nhựa propolis về tân trang bằng cách đắp dày thêm lên các bức tường ngăn để cách nhiệt và bớt ô nhiễm tiếng động (acoustic insulation).

4)- Phấn hoa (bee pollen)- Có hai loại phấn: loại do gió mang đi (anemophile), là thủ phạm của các chứng dị ứng (allergies, ví dụ loại gây ra hay fever và rose fever, loại phấn hoa thứ hai nặng hơn thường “quá giang” các côn trùng nhất là ong hút mật (entomophile) để giúp sự kết trái. Loại phấn hoa sau không di chuyển nhờ gió và không gây dị ứng (allergy).

Phấn hoa không thể hóa hợp trong phòng thí nghiệm, nó là sản phẩm bí mật độc quyền của tạo hóa, các công cuộc phân tích mới nhất cũng bó tay, không cách gì định danh được hết vì loài ong đã sử dụng bí quyết gia truyền để chế biến phấn hạt và giữ kín bí mật đó vì con ong được tạo hóa giao phó nhiệm vụ truyền giống cho hơn 80% các giống thực vật trên quả địa cầu. Chúng ta phải đồng ý một điều là trái đất này sẽ bớt hào hứng, bớt vui tươi nếu không có các loài hoa thơm và đẹp duyên dáng và các loại cây trái ngon ngọt bổ dưỡng. Chỉ nghĩ bao nhiêu đó chúng ta không biết cách nào xứng đáng để tri ân người bạn nhỏ mà đôi lúc chúng ta sợ bị tấn công nhức nhối, chính các sinh vật không mấy đẹp gái đó đã làm trái đất này đáng sống và sống có ý nghĩa hơn. Và nghĩ xa hơn nữa, liệu chúng ta có tồn tại nếu 80% cây trái đó bị tuyệt chủng?

Các khoa học gia Mỹ không quan tâm mấy đến thành phần các sản phẩm của tổ ong vì họ không mấy tin tưởng vào giá trị dinh dưỡng và dược tính của tổ ong, nhưng ở Pháp và Bỉ quốc, hội Hoàng gia các nhà Thiên nhiên học (Royal Society of Naturalists of Belgium and France) đã in sự tìm tòi phân tích của họ thành sách. Tác giả Robert Delperée đã ủng hộ lập luận rằng pollen là một một thức ăn hoàn hảo với đầy đủ chất bổ dưởng cho sức khỏe và đời sống. Sau lưng ông là hội Hoàng gia các nhà Thiên nhiên học trên đã xác nhận sau khi hội đã nuôi thí nghiệm bốn thế hệ chuột khỏe mạnh chỉ cho ăn toàn pollen.

Từ quan niệm pollen là món ăn hoàn hảo nhất hoàn cầu, bác sĩ Gunther Vorwohl tại đại hội Sontra, Đức quốc, trong bài thuyết trình về “Phấn hoa và mật ong”, ông viết : “Với sự gia tăng dân số bằng một tốc độ khủng khiếp trên quả địa cầu, nạn thiếu ăn, thiếu dinh dưởng và nạn đói sẽ trở nên trầm trọng, đây là lúc chúng ta quay về với thực phẩm thiên nhiên đầy đủ amino acid, protein và các chất khác, lại chứa nhiều dược tính; chỉ có pollen là có thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu khẩn thiết về thực phẩm trên”. Phấn hoa là một trong những nhu cầu kinh tế tối hậu của tổ ong (apiary) sau mật hoa, vì nó là thực phẩm nuôi đám nhí ong thợ và ong đực trong cuối chu kỳ hóa nhọng. Gặt hái phấn bột, vo thành phấn hạt (pollen pellets or granules) chộn rộn nhất vào mùa xuân. Vào mùa đông khi việc giữ trẻ (nursing) giảm đi thì phấn hạt ít cần đến mà chỉ còn có mật là thích hợp nhứt và đầy đủ dinh dưỡng nhất. Ông Gosta Carlson, một nhà khảo cứu Thụy Điển đã bỏ cả đời từ năm 1920, đến nay đã 80 tuổi để nghiên cứu về pollen. Ông quan sát cách làm việc, cách thu nhặt pollen từ các loại cây khác nhau cùng cách biến chế và xử dụng trong tổ ong, để đi dến kết luận là pollen các loại hoa có chứa nhiều amino acids đậm đặc, các loại sinh tố, chất béo và các loại khoáng chất khác nhau, có giá trị dinh dưỡng và dược tính khác nhau, nói chung chung thì phấn hoa khi dùng có tác dụng ngừa các dị ứng (allergies); giúp cho việc ngăn ngừa ung thư nhiếp hộ tuyến (prostate cancer) là một hội chứng giết độ 41,000 người Mỹ mỗi năm, và triệu chứng đái láo trong chứng Benign Prostatic Hyperplasia (BPH) ở người lớn tuổi.

5)-Sữa ong chúa (royal jelly): như đã nói ở trên, ong chúa không cósữa mà chỉ có trứng; bọn “ong nhà bếp” tu luyện nghệ thuật nấu nướng tuyệt kỷ chế ra món ăn cho các nữ chúa, già như trẻ thưởng thức với mục đích lên cân nhanh đẫy đà béo tốt để làm cái máy đẻ, bảo tồn nòi giống ong. Royal Jelly là thực phẩm chứa nhiều acid-béo, các carbohydrate giản dị . Khoa học chưa thể nào đủ sức phân tích và định danh hoàn toàn tất cả các chất chứa trong sữa ong chúa, vì ngoài mật ong ra, Royal Jelly là chất đầy yếu tố huyền bí. Trên hết là sữa ong chúa được truyền tụng là món dưỡng da nhiều hormone hiếm giúp cho chúng ta lâu già. Nó còn chứa các sinh tố B complex gồm thiamine, riboflavin, pyridoxine, niacin, pantothenic acid, biotin, inositol, và folic acid. Sinh tố thì có A,C và E. Tới 20 chất amino acids tối cần thiết và nhiều loại khoáng chất (minerals) như chất sắt, chất vôi, silicon và sulfur, phosphorous. Royal jelly rất giàu protein, gồm cystine, lysine, và arginine. Nó cung cấp chất fatty acids quan trọng, các chất đường, sterols, và acetylcholine, chất cần thiết trong việc chuyên chở các tín hiệu trên giây thần kinh và giúp cho sự tiết các hạch tuyến.

Royal Jelly rất dồi dào chất nucleic acids, gồm DNA và RNA, là chất căn bản của sự sống. Royal Jelly còn có chất gelatin, chất sinh ra collagen. Collagen là nhân tố mãnh liệt chống lại sự lão hóa (anti-ageing elements).

Royal Jelly còn có sự hiện diện của chất gamma-globulin, là chất chống nhiễm trùng và yếu tố tạo ra sự miển nhiễm.

Chúng ta không ngạc nhiên là Royal Jelly còn chứa thêm chất decanoic acid, là chất có khã năng diệt trùng và diệt nấm rất mãnh liệt, vì nếu Royal Jelly không trang bị các trụ sinh đó, thì với sự dồi dào chất dinh dưỡng cũa sữa sẽ là môi sinh lý tưởng cho các loại vi khuẩn nguy hiễm sinh sôi nẫy nỡ. Dụng ý của tạo hóa thật kỳ diệu và chu đáo, nằm ngay trong sản phẩm quý hiếm bí truyền của một loài côn trùng tối hữu ích cho nhân loại.

Royal Jelly khi phối hợp với sâm và pollen pha rượu là một hỗn hợp ginsenoside đại bổ, bổ dương và bổ âm cho những người cần bồi dưỡng sinh lực sau khi mổ, vì sinh đẻ nhiều và bệnh hoạn. Hỗn hợp trên còn giúp những người bị bịnh thiếu ngủ, kém ăn, thiếu dinh dưỡng, bị chứng đau gan, lở bao tử, suyễn. Ngoài ra nó còn làm tăng năng lượng cho những người lao tâm lao lực quá sức, già yếu, bị bệnh phong thấp. (Xin đọc “Bee hive Product Bible” của Royden Brown, “My Favorite Honey Recipes” compiled by Mrs Walter T. (IDA) Kelly).

Hồi còn nhỏ, ba tôi ưa đố chúng tôi con gì can đảm nhất, dĩ nhiên là chúng tôi trả lời những con to nhất, dữ nhất như cọp, voi. Ba tôi bảo bây leo lên cây cam hái vài trái sẽ tìm ra câu trả lời. Thưa các bạn, óc tò mò đã khiến tôi bị lũ kiến vàng cắn cho một trận, nếu các bạn nổi quạu chỉ cần giết một con, mùi máu hôi đặc biệt của chúng sẽ làm đồng đội nhào vô quyết tử cùng bạn, hết đợt này đến đợt khác, không khi nào chịu lùi bước cho đến khi bạn vừa tuột cây vừa hít hà. Cũng vì thế đừng bao giờ vô cớ bạn chọc phá tổ ong, vì ong kiến là hai động vật xã hội cao đẳng, chúng có thể sống chết vì nhau.

Khảo cứu về đời sống của con ong, cái kiến, chúng ta lĩnh hội, rút tỉa được gì, hỡi các sinh vật siêu đẳng?  Ngẫm… ruồi lại nghĩ đến ta. Các “anh lớn” lãnh tụ bỏ đồng đội chạy lấy thân, mang thân phận di cư chùm gửi vẫn cứ vênh váo, đòi làm lãnh tụ, chủ tịch anh minh này, chủ tịch anh minh nọ, đấu võ mồm, viết hịch hiệu triệu kiểu cải lương, khiến chán.

 

Nhà thơ Thái Thụy Vy, tên thật là Đỗ Khoa Luật, quê quán Biên Hòa, Đồng Nai, từng là một sỹ quan quân y trong quân lực VNCH.  Ông đã xuất bản nhiều sách bao gồm nhiều thi tập, truyện ngắn, biên khảo, v.v. Ông đặc biệt yêu màu tím và vì vậy trong thơ văn của ông, ta thấy luôn phản phất đâu đó sắc màu tím hiền hòa.  Hiện ông đang cư ngụ tại Chandler, Arizona.  Mời quý độc giả vào trang nhà của tác giả để tìm đọc nhiều bài vở giá trị: http://thaithuyvy.wordpress.com

 

 

Author: neverbye

Share This Post On
Wedding Photo, Engagement Photo, Birthday, Outdoor,