DẠY VÕ LÀ DẠY ĐẠO LÀM NGƯỜI

Trung Dao 1Trung Đạo lấy bút hiệu cùng tên, sinh năm 1943 ở Bắc Việt.  Định cư tại Hoa Kỳ năm 1975.  Trước năm 1975, dạy học.  Ông là thành viên của nhóm thành lập Trường “Anh Ngữ Kinh Luân” tại Sàigòn năm 1970.  Ông bắt đầu cầm bút từ cuối thập 1970 và đã từng cộng tác với Thế Giới Ngày Nay, Diễm Cali, Phượng Hoàng, Bút Tre, và hiện cộng tác với Việt Lifestyles và đôi ba websites.   Trung Đạo Người có võ rất coi trọng lễ và giữ lễ.  Trong thời đại giao lưu, hội nhập, khi các quan hệ xã hội trở nên mong manh, các giá trị văn hóa truyền thống bị lung lay, biến dạng, xem ra chỉ có võ là còn giữ truyền thống “tôn sư trọng đạo”, còn trọng lễ và giữ lễ.  Với con nhà võ, nơi tập võ không phải tại Câu lạc bộ như nhiều người nghĩ, mà là một Võ Đường, Đạo Đường.  Người Nhật gọi là Dojo (Jo là nơi, Do là đạo là đạo đức. Dojo là nơi rèn luyện đạo đức). “Học lễ” là nội dung được thực hành liên tục, kiên định trong suốt quá trình dạy võ và học võ. Ngày đầu tiên đi học võ, người học phải trải qua thủ tục “Bái sư nhập môn”.  Tuy không rườm rà như ngày trước, nhưng phép tắc thì vẫn phải duy trì: Người học thắp nén nhang trên bàn thờ Tổ, được gặp mặt Thầy. Sau đó được giới thiệu với người Huấn luyện viên trực tiếp, được hướng dẫn để biết phép tắc và những qui định của Võ đường… Vì nơi tập là một Đạo đường, mỗi lần ra vào, người học phải cúi chào khi gặp thầy, bạn, các huynh đệ.  Bắt đầu và kết thúc một buổi tập, môn sinh phải chào Tổ, chào Thầy.  Bắt đầu và kết thúc một trận đấu, hai đối thủ phải cúi chào nhau. Bắt đầu và kết thúc một bài quyền bao giờ cũng là cái chào.  Bài tập đầu tiên trong cuộc đời học võ là “sự bái chào”. Trong võ đường, qua các kỳ sát hạch lên đai, người học võ được đánh giá dựa trên hai tiêu chuẩn:  thành tựu công phu và phẩm chất đạo đức, được thể hiện qua cung cách quan hệ, ứng xử với mọi người… Với những ai hiểu, thì đó không chỉ là hình thức mà còn bao gồm cả nội dung. Với những người học còn nhỏ tuổi, chưa kịp hiểu, thì cứ kiên trì hành lễ, một ngày kia sẽ ngộ ra ý nghiã thâm thúy bên trong mỗi cái chào. Người học võ chân chính không xem cái chào là lễ, mà là hình thức và cách thể hiện lễ.  Cái chào ngầm chứa nội dung vô cùng quan trọng, là kim chỉ nam của người học võ, gọi chung là Võ Đạo.  Cái chào ví như là cái bóng điện, võ đạo là dòng điện.  Không có dòng điện, bóng điện không thể được thắp sáng.  Không có tinh thần võ đạo, thì cái chào chỉ là một động tác gật đầu. Quá trình học võ là quá trình tu dưỡng phẩm chất, đạo đức, làm nền tảng cho hành vi ứng xử trong các mối quan hệ xã hội.  Tùy theo từng mối quan hệ xã hội mà hành vi ứng xử khác nhau. Ví dụ, đối với cha mẹ khác đối với thầy với bạn; đối với người thân khác với kẻ sơ quen; với ân nhân khác với kẻ thù; cung cách đi dự đám cưới khác với dự đám tang…Nhưng dù sắc thái có khác nhau, tất cả đều được hình thành trên một nguyên tắc chung:  Người thường xem trọng hình thức, nội dung của lễ, nhưng con nhà võ coi trọng nền tảng, nguyên tắc của lễ. Nguyên tắc: Sự Tôn trọng và Lòng Nhân ái Tôn trọng là tôn trọng quyền tồn tại, quyền sống, quyền làm người. Trong đời sống xã hội, vị trí mỗi người đều khác nhau, nhưng nhân cách làm người thì không khác - ai cũng sinh ra từ bà mẹ, ai cũng bình đẳng trước thượng đế và cái chết.  Có tinh thần tôn trọng, người tập võ không hạ mình trước bất cứ ai, không phân biệt ai hơn ai, không tâng bốc người trên, không miệt thị người dưới.  Tôn trọng con người, tôn trọng mình, tôn trọng đối thủ, đó là một trong những phẩm chất hàng đầu của người học võ. Nhân ái là mục đích cuối cùng của người học võ, giúp định hướng hành vi của người ấy. Dù nghĩ gì, làm gì, nói gì, xử sự thế nào, tất cả phải nhằm mục đích làm sao cho con người tốt hơn, cho mình tốt hơn, cho cuộc đời đẹp hơn.  Nếu không vì lòng nhân ái, hành động của người học võ không khác chi hành động của tên cướp, của kẻ côn đồ, sẽ bị người đời xa lánh. Khiêm tốn và nhún nhường. Thói kiêu căng tự mãn là kẻ thù lớn nhất của người học võ.  Núi cao có núi cao hơn, sự hiểu biết không bao giờ có giới hạn.  Ai không thấy thiếu sẽ không học thêm được gì.  Ai không biết ẩn mình sẽ không bay cao.  Muốn nhảy lên cao thì phải rùn thấp, muốn vượt qua xà phải biết uốn mình. Với người học võ, đức khiêm tốn không làm mình bé lại mà giúp mình có sức mạnh đi xa về phía trước, không làm mình thấp hơn đối thủ mà làm đối thủ không cao hơn mình.  Đức khiêm tốn thể hiện đạo đức của người học võ là yêu người, vì người. Niềm tin và bản lĩnh. Trên đời không ai có tất cả, và không ai không có tất cả. Con gà trống cất tiếng gáy, cả làng thức dậy, nhưng không đẻ trứng.  Con gà mái đẻ được trứng, nhưng không làm kinh động được ai. Ông nông dân lao động cực nhọc nuôi sống gia đình, nhưng không viết được bài nhạc.  Ông nhạc sĩ tài danh sáng tác cả pho nhạc, làm rung động trái tim bao thế hệ, nhưng không vợ con, không cuốc nổi một luống đất. Thật vô lý nếu ông nông dân nọ mặc cảm vì không sáng tác được nhạc, hoặc ông nhạc sĩ kia đau buồn vì không làm tròn thiên chức lấy vợ, sinh con.  Cho nên, học võ để biết mình là ai, biết cách hun đúc, hoàn thiện mình để có niềm tin và tự hào về bản thân. Mất niềm tin là tự đánh mất vũ khí của mình. Niềm tin, đối với người trí thức, đó là sức mạnh nội tâm. Đối với bậc thiền sư, đó là tinh thần vô úy.  Đối với người học võ, đó là dũng khí của người chiến sĩ.  Mất niềm tin, con người hoặc rơi vào tự ti mặc cảm, hoặc trở nên hung hăng gây hấn tại nơi làm việc, ngoài cộng đồng xã hội.  Chỉ có bản lĩnh, niềm tin, người học võ mới có sức mạnh để thể hiện cái đức nhân ái, khiêm tốn, nhún nhường và tôn trọng người khác. Nhân ái và tôn trọng, khiêm tốn và nhún nhường, bản lãnh và niềm tin, đó không chỉ là nền tảng của mọi hành vi ứng xử, mà còn là nền tảng của tinh thần hoà hợp. Mục đích tối thượng của người học võ là xây dựng được mối quan hệ tốt đẹp giữa con người và con người trong tinh thần cộng tác, cộng đồng, cộng hưởng và cùng hưởng trong xã hội, thái hòa trong gia đình và an lạc trong bản thân.  Đây là điểm chúng ta đang thiếu, thiếu trầm trọng. Người Việt Nam chúng ta thiếu cái thuận và thừa cái nghịch, thiếu cái hòa mà thừa cái bất hòa, thiếu đoàn kết mà thừa chia rẽ. Tôi từng nghe nói:  “Một người Việt Nam và một người Nhật, thì người Nhật không bằng người Việt Nam. Ba người Việt Nam và ba người Nhật, thì ba người Việt Nam không bằng ba người Nhật”.  Đó là cách khẳng định thói xấu hay chỉ trích, bất hợp tác, không biết nhún nhường của người Việt mình. Vì sao ư? Có chi đâu, vì chúng ta thiếu cái đức tôn trọng, yêu thương, khiêm tốn, bản lãnh và sức mạnh nội tâm.  Ở đời, phàm kẻ nào thiếu sức mạnh nội tâm, không bản lãnh, sẽ không nói được tiếng xin lỗi, lời cám ơn, biết nhận trách nhiệm…Và chắc chắn kẻ đó không thể tạo được mối quan hệ tốt đẹp với mọi người. Tất nhiên, ở trường học và trong gia đình, ai cũng mong muốn dạy bảo con em mình biết lễ phép, cách ăn ở, đối nhân xử thế.  Trường học còn theo sát “Tiên học lễ, hậu học văn”.  Nhưng xem ra, chỉ có võ là dạy cái lễ cho con người hiệu quả nhất.  Trong những buổi kiểm tra lên cấp đai đẳng luôn luôn bao gồm cả lễ và võ. Vì võ xem trọng đào luyện cái gốc song song với ngọn, nội dung song song với hình thức, coi trọng việc giáo dục cho người học võ có tinh thần nhân ái, tôn trọng con người, khiêm tốn, có niềm tin và bản lĩnh.  Môn võ cũng dạy cho các em cách đối nhân xử thế, cách quan hệ ứng xử cho phải phép, phải đạo ngoài xã hội. Tiếc thay, hiện nay nhiều người hiểu không đúng về võ.  Dưới mắt họ, võ là hình thức đánh nhau, là vai u thịt bắp, khuôn mặt lì lợm… Họ không hề hiểu võ là một hình thái nghệ thuật, là công cụ giáo dục đạo làm người.  Học võ chính là học đạo làm người.  Thêm vào đó, cũng vì có nhiều người dạy võ chỉ dừng lại ở mức “võ thuật” mà chưa đạt tới mức “võ lý” và “võ đạo”, chỉ dạy cho môn sinh cách đánh quyền pháp mà không dạy cho họ đánh ai, đánh thế nào, bảo vệ ai, bảo vệ cái gì… Đã thế, trong xu thế thị trường thương mại hóa ngày nay, võ bị xếp ngang hàng với các môn thể thao khác.  Người ta chạy theo thành tích, huy chương mà quên mất sứ mệnh giáo dục, chạy theo hư danh mà quên đi thực chất.  Tất nhiên võ cũng là một môn thể thao, nhưng không đơn thuần chỉ là thể thao.  Võ là môn thể thao truyền thống.  Nó vừa phải làm nhiệm vụ đào tạo những vận động viên xuất sắc cho nền thể thao nước nhà, vừa phải hoàn thành sứ mệnh rèn luyện cho người học võ về sức khỏe và phẩm chất đạo đức. Hẳn chúng ta đều biết, “Tinh thần Nhật Bản” và “Sức mạnh Nhật Bản” được hun đúc bởi ba dòng sữa: Thần đạo Shinto, Phật giáo Thiền tông và Tinh thần Võ đạo. Trong suốt bốn nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, võ là một trong hai dòng suối tạo nên sức mạnh Việt Nam: “Sống vững chãi bốn nghìn năm sừng sững. Lưng đeo gươm, tay mềm mại bút hoa”, trong sáng hai bờ suy tưởng. Rất hiên ngang mà nhân ái chan hòa (Huy Cận). Từ Đinh, Lý, Trần, Lê, Nguyễn, các bậc khai quốc công thần, đều xuất thân từ con nhà võ.  Trong các triều đại ấy đều có trường dạy võ, chương trình học võ (Tú tài, Cử nhân, Tiến sĩ, v.v.).  Rõ ràng, cùng với văn, võ đã thực sự góp phần hun đúc nguyên khí quốc gia, sức mạnh dân tộc, đào luyện con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có sức mạnh, niềm tin và khí phách.  Tất cả tính chất này đã được thử lửa qua suốt chiều dài lịch sử chống ngoại xâm và xây dựng đất nước. Chúng ta có nhiều bạn bè, nhiều đối tác khắp nơi trên thế giới. Chúng ta đang hân hoan vươn ra biển lớn. Nhưng nhìn lại, xem ra “dòng suối võ” ngày nào không còn chảy nữa! Không biết nó tắt từ thời nào?  Vì sao tắt?  Có cần khơi thông?  Làm thế nào khơi thông để môn võ tiếp tục góp phần mình vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước?  Rất cần các công trình nghiên cứu nghiêm túc, các hội nghị khoa học để làm sáng tỏ những vấn đề đó. Thiết nghĩ, đứng trước kẻ thù hay đối tác làm ăn, mỗi dân tộc, mỗi con người đều cần sức mạnh, niềm tin và khí phách.  Thiếu những yếu tố này thì không thể đánh thắng ngoại xâm.  Thiếu sức mạnh, niềm tin và khí phách, không thể làm ăn sòng phẳng với người.      

Author: Chau Pham

Share This Post On
Wedding Photo, Engagement Photo, Birthday, Outdoor,
Share This