Cựu Quân Nhân, Ca Sĩ Duy Lý Tìm Về Dĩ Vãng

Duy Ly

Con người khi lớn lên ai cũng có cho riêng mình một khung trời kỷ niệm với những ký ức về quãng đời đẹp nhất của đời mình.  Tìm về dĩ vãng để chúng ta cùng sống lại với những kỷ niệm đẹp đã làm dầy thêm hành trang cho ta vững bước trên đường đời.

Nắng hạ về ngang lối

Hoa rụng trước dậu thưa

Tôi tìm về dĩ vãng

Lạc đường trên lối xưa

~ Nguyễn Hải Bình (Trích từ bài thơ Những Ngày Đã Qua)

Nhân chủ đề Hoài Niệm, Việt Lifestyles xin hân hạnh giới thiệu đến quý độc giả bài viết Tìm Về Dĩ Vãng, xoay quanh câu chuyện của cựu quân nhân, ca sĩ Duy Lý, người từng là chứng nhân của lịch sử Việt Nam thời cận đại, từng sống dưới ba chế độ trên quê hương Việt Nam, chia sẻ cái nhìn của ông về cuộc đời và thân phận.

Tôi quen biết chú Duy Lý tính ra cũng gần 20 năm nay, khoảng thời gian đó tôi còn là cô sinh viên năng nổ, hoạt bát trong vai trò MC và đã cùng với một số các bạn trẻ tại Arizona thực hiện Chương trình phát thanh Việt ngữ mang tên Quê Hương Radio vào khoảng cuối thập niên 90.  Chú Duy Lý dạo đó cũng mới dọn sang Arizona, mở tiệm Cafe Dĩ Vãng, nơi quy tụ những người có tâm hồn văn nghệ.  Đài Quê Hương của chúng tôi đã được sự bảo trợ của Chú Duy Lý để tổ chức cuộc thi Tuyển Lựa Giọng Ca Vàng tại Arizona trong nhiều năm, ngay tại hội quán Cafe Dĩ Vãng.  Sau này, chúng tôi chuyển sang mở Đài TNT AZ, Chú Duy Lý vẫn tiếp tục ủng hộ Đài TNT mỗi khi cần đến trong suốt 10 năm qua. Vì vậy, giữa tôi và chú Duy Lý có nhiều kỷ niệm thâm tình.  Nhân một dịp tình cờ chuyện trò cùng Chú, tôi khám phá ở Chú có khá nhiều điều thú vị.  Hôm nay, xin được hân hạnh chia sẻ tâm tình của Chú mà có lẽ đó cũng là tâm tình của những chú bác cùng thế hệ với Chú sinh ra giữa thời binh biến, cuộc đời đầy phiêu lưu gian truân, nổi trôi theo mệnh nước, cho đến khi làm lại cuộc đời trên quê hương thứ hai này.

Duy Ly2

Chú Duy Lý tên thật là Nguyễn Công Lý, sinh quán ở Hưng Yên. Năm lên 9 tuổi, chú cùng gia đình di tản vô Nam vào năm 1954 theo Hiệp định Geneve và định cư ở Vũng Tàu.  Như bao chàng trai lớn lên trong bối cảnh chiến tranh, năm 1967 chú gia nhập vào quân ngũ thuộc binh chủng tiểu khu Phước ty, sau đó được biệt phái vào ngành Tâm Lý Chiến và phục vụ trong ngành này ở Biệt khu Vũng Tàu từ năm 1968 đến năm 1975.

Duy Ly2AKhi tôi hỏi Chú có kỷ niệm nào đáng nhớ nhất vào khoảng thời gian phục vụ trong ngành Tâm Lý Chiến, chú trầm ngâm mắt nhìn xa xăm như dõi về quá khứ, chú chia sẻ trong sự bùi ngùi: “Trong khoảng thời gian tôi phục vụ trong ngành tâm lý chiến, vốn là người có tâm hồn văn nghệ, nên tôi đã tham gia đi hát ở phòng trà Hạnh Đào (Vũng Tàu) vào những dịp cuối tuần.  Thời gian của năm 1968, Saigon có nhiều biến động nên phong trào văn nghệ đã không diễn ra thường xuyên.  Vì vậy, các ca sĩ thượng thặng thời đó như Chế Linh, Giang Tử, Lệ Thu, Khánh Ly... thường ra Vũng Tàu hát vào mỗi cuối tuần.  Tại đây tôi đã quen biết với rất nhiều anh chị em nghệ sĩ, trong số đó tôi khá thân với anh Chế Linh.  Kỷ niệm tôi nhớ nhất là chuyến đi cùng tiểu đoàn văn nghệ ủng hộ tinh thần của các chiến sĩ ở đảo Trường Sa.  Tôi nhớ lần đó, phái đoàn chúng tôi mang theo nhiều lương thực, quà cáp, thuốc men và cả cây thông để trồng ở đảo.  Mỗi tối, khi màn đêm buông xuống, trong không gian tĩnh mịch chỉ có chúng tôi và tiếng sóng vỗ đều đều, chúng tôi đốt lửa trại, và cùng ngồi quanh quần bên nhau, hát cho nhau nghe những bài nhạc lính hùng hồ hay những bài tình ca thời tiền chiến.  Chúng tôi đã trình diễn văn nghệ cho các anh em chiến sĩ nơi tiền đồn với mục đích vừa cám ơn họ vừa giúp làm xoa dịu nổi nhớ nhà của họ.  Chúng tôi đã luân phiên ở mỗi đảo độ 1 tuần.  Lúc đó, Trường Sa thân yêu hãy còn trên bản đồ Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta... Bây giờ, chúng ta đã mất Trường Sa rồi... Ôi, buồn thay!!!”

Duy Ly3

Tôi hiểu được nổi buồn của chú, hay cũng là đau quốc hận của những cựu quân cán chính VNCH đã mang theo trong suốt 42 năm qua.  Tôi tiếp lời như vừa để tỏ ra sự cảm thông, vừa để phá tan bầu không khí im lặng:  “Mất biển đảo đã đành, nhưng mất nước mới chính là nổi đau quốc hận của dân tộc chúng ta trong suốt 42 năm qua.  Vào thời điểm Sàigon thất thủ trong những giờ phút lâm chung, lúc đó chú làm gì, ở đâu?”

Duy Ly4

Vẫn ánh mắt lim dim nhìn đăm chiêu về một cõi xa xăm, chú tiếp tục trong niềm xúc động:  Trước ngày 30/4, tôi được phép đi về Sàigon vài hôm.  Lúc đó, Tổng thống Thiệu đã giao quyền lại cho ông Hương. Khi tôi ở Sàigon được vài hôm thì ông Hương lại trao quyền cho Dương Văn Minh.   Những ngày đó, Sàigon với lệnh giới nghiêm rất khắc khe nên không ai được phép rời khỏi nhà.  Đến ngày 30, tôi và vài người bạn chạy ra Tòa đại sứ Mỹ, chúng tôi đã vào được bên trong.  Chúng tôi đã nhẫn nại đứng đợi cùng dòng người chen chúc hổn loạn đó khá lâu nhưng chuyến máy bay cuối cùng đã không trở lại.  Vì vậy, tôi và mấy người bạn lại kéo nhau ra Bến Bạch Đằng.  Khi đến nơi, chúng tôi thấy những chiếc tàu lớn đậu ở ngoài xa, họ chỉ cho tàu nhỏ vào đón những người có thân nhân hoặc người quen biết... Và một lần nữa, chúng tôi đành thất vọng quay ra về.  Ở Sàigon mà lòng tôi lúc đó cứ cảm thấy bồn chồn, bất an.  Tôi lo cho gia đình còn kẹt lại ở Vũng Tàu, nên tôi đã tìm cách để về lại Vũng Tàu, mặc dù hay tin cầu Cỏ May đã bị sập.  Cuối cùng, tôi cũng đã về được nhà.  So với những anh em chiến binh khác, tôi may mắn hơn họ vì tôi đã không đăng ký trình diện, nên tôi không bị bắt đi học tập cải tạo.  Có lẽ vì do trước đây gia đình tôi đã từng có kinh nghiệm sống dưới chế độ CS Bắc Việt, nên chúng tôi đã không tin và sẽ mãi không tin những gì CS nói, chỉ nhìn những gì CS làm... Do đó, tôi đã có quyết định đúng đắn khi không tin vào những lời hứa hẹn của CS khi ra trình diện.”

Theo lời chú Duy Lý, gia đình chú  đã bỏ CS chạy vào Nam trong đợt di cư năm 1954, nên bây giờ khi CS cưỡng chiếm miền Nam, gia đình chú phải bằng mọi cách trốn chạy thêm lần thứ hai.  Chú cho biết chú đã vài lần tìm cách trốn đi vượt biên, nhưng đều bị thất bại.  Trong lần vượt biên năm 1976, chú đã bị bắt ở Bãi Trước Vũng Tàu và bị đưa đi tù ở các trại Cựu Chiến Binh (ở khoảng 9 tháng), sau đó chuyển sang các trại Bầu Lâm, Xuyên Mộc, Bà Rịa.  Đầu năm 1979 chú được thả về.   Chú kể lại mà vẫn còn ấm ức:  “Cô biết không khi tôi được thả về, không còn nhà cửa vì đã bị nhà nước tịch thu, tôi đã mang giấy tờ nhà lên phường Công an để đòi lại căn nhà số 6 đường Trưng Trắc, Vũng Tàu. Họ đã trả lời tôi:  “Chúng tôi đâu phải là người giữ nhà của anh đâu mà anh đã bỏ nhà đi, sao bây giờ lại về đòi lại, là sao?”  Chúng nó nói như vậy, tôi không còn gì để nói nữa... Cũng may, là lần vượt biên sau cùng của tôi đã may mắn trót lọt, đến được bến bờ tự do.”

Tò mò, tôi hỏi chú về chuyến vượt biển lần đó, tàu của chú có gặp trở ngại gì không trong suốt chuyến đi.  Vẫn giọng nói trầm buồn, chú kể về chuyến vượt biển lần đó rõ mồn một như thể chuyện mới xảy ra ngày hôm qua:  “Sau khi đi tù về, tôi không biết làm nghề gì, nên mở quán cafe ở Rạch Dừa, cách Vũng Tàu khoảng 7 cây số.  Tình cờ một hôm có một người quen cũ, ghé quán cafe rủ tôi đi vượt biên.  Gia đình tôi chia ra làm 2 nhóm, tôi cùng một số anh em (7 người) đi một ghe, mẹ tôi cùng bà xã tôi và hai cháu đi ghe sau.  Tiếc thay, ghe của mẹ tôi, bà xã cùng hai cháu đã bị lộ, nên không ra được tàu lớn. Nào ngờ, đó cũng là chuyến đi định mệnh.  Sau 3 ngày lênh đênh trên biển, bị cướp bởi hải tặc 3 lần, cuối cùng chúng tôi đã đến được Malaysia.”

Tôi nhíu mày:  “Bị cướp đến 3 lần hả chú?”

“Đúng vậy.  Chúng tôi bị cướp lần thứ 1 khi tàu vừa mới ra khỏi hải phận quốc tế không lâu.  Bọn cướp đã lấy hết vàng bạc, đồng hồ và thậm chí cả tấm la bàn. Do không có la bàn định hướng, nên tàu chúng tôi cứ đi loanh hoanh giữa biển nước mênh mông.  Sau đó, chúng tôi không còn cách nào khác là lần theo hướng ánh sáng các tàu bè gần đó.  Nào ngờ, chúng tôi đã vô tình đi theo tàu của bọn cướp giả danh dân chài cá.  Mới đầu, chúng tỏ ra tử tế, mang thức ăn qua tàu chúng tôi.  Ngủ qua đêm, sáng hôm sau, chúng qua tàu lục soát tất cả, và lấy mọi thứ, nhất là những tiền mặt, nữ trang cất giấu trong quần áo cũng bị lột lấy sạch.  Đây là chặn chúng tôi bị mất mát nhiều nhất.  Sau khi cướp của xong, chúng chỉ đường cho tàu chúng tôi đi tiếp.  Chặn thứ 3, là khi chúng tôi đến gần bờ.  Xa xa nhìn thấy những rặng dừa, mọi người trên tàu ai nấy đều mừng rỡ.  Vì vậy, khi thấy mấy ghe nhỏ tới, mọi người đều vồn vã.  Nào ngờ, lại bị họ cướp lần 3. Lần này, không còn gì để họ cướp ngoài mỗi bộ đồ mặc trên người cũng bị họ lột lấy hết quần áo, đàn ông đàn bà trên tàu chỉ còn lại áo quần lót che thân. Tôi còn nhớ, đi cùng chuyến tàu của tôi là chủ nhân của Bánh cuốn Tây Hồ bây giờ.  Cuối cùng, chuyến tàu của chúng tôi mang biển số VT-383 đã đến được tiền đồn Mã Lai, sau đó chúng tôi được đưa vào trại tị nạn trên đảo Pulau Bidong.

Duy Ly5A

Ở trại tị nạn lúc đó, có khoảng gần 50,000 người.  Trong thời gian ở đảo khoảng gần 1 năm, tôi đã mở quán cafe và sinh hoạt văn nghệ tại đây.  Tôi được bầu làm trưởng ban văn nghệ thông tin ở đảo Pulau Bidong và mỗi tối đều tổ chức chương trình văn nghệ hát cho nhau nghe.  Ở đảo, họ phân chia ra mỗi người mỗi ngành nghề có nhiệm vụ giúp đỡ lẫn nhau, người đến trước giúp người đến sau.  Trong thời gian ở đảo, tôi đã tiếp đón và giúp đỡ các ca sĩ Lệ Thu, Ngọc Minh và ông Hoàng Thị Thao (em của nhạc sĩ Hoàng Thị Thơ).  Ca sĩ Lệ Thu và ca sĩ Ngọc Minh khi mới đến đảo cũng đã từng tá túc ở trên gác quán cafe của tôi.  Cho đến ngày tôi đi, tôi đã giao quán cafe lại cho chị Lệ Thu…”

Duy Ly5B

Nghe chú kể mà lòng tôi chùn xuống, cảm thấy thương xót cho số phận của những người vượt biển... Họ đã chịu nhiều mất mát, đã đánh đổi tất cả ngay cả mạng sống của mình cũng chỉ vì hai chữ tự do.  Có lẽ vì vậy, mà phần đông những người vượt biên khi đến được xứ sở tự do, ai cũng cố gắng học và làm việc để có được thành công như ngày hôm nay.  Đây là bài học lịch sử mà thế hệ mai sau không được quên và không cho phép mình quên.

Duy Ly5C

Được biết từ khi sang định cư ở Mỹ vào đầu năm 1980, chú Lý sang định cư ở New Orlean mở quán cafe và vũ trường một thời gian.  Sau đó, chú dọn về California và cuối cùng đặt chân đến vùng nắng ấm Arizona vào năm 1996, mở quán Cafe Dĩ Vãng phục vụ quý đồng hương cho đến ngày hôm nay…  Với tâm hồn nghệ sĩ, yêu văn nghệ, nên dù ở bất cứ đâu, chú cũng đều mở ra những hội quán đem lời ca tiếng nhạc phục vụ bà con, ngõ hầu giúp họ vơi đi nỗi buồn xa xứ.

Các anh chị em ca sĩ AZ đến chung vui mừng Sinh Nhật Chú Lý và Cafe Dĩ Vãng Khi nói về những sinh hoạt văn nghệ, chú cho biết chính danh ca Chế Linh là người đã đặt ra nghệ danh Duy Lý cho chú khi chú mới bắt đầu đi hát ở Vũng Tàu.  Cái tên Duy Lý từ đó đã gắn liền với phần đời còn lại của chú cho đến ngày nay.  Nhắc đến danh ca Chế Linh, tôi vui miệng hỏi xem chú đã chuẩn bị gì cho lần hội ngộ cùng danh ca Chế Linh trên sân khấu của Casino Wild Horse Pass vào ngày 27 tháng 5 sắp tới chưa?  Chú cho biết chú và Chế Linh đã điện thoại trao đổi, và cũng đã có sự chuẩn bị.  Hơn 10 năm không gặp lại Chế Linh ở vùng nắng ấm AZ, cho nên sự hội ngộ lần này hứa hẹn nhiều điều thú vị bất ngờ.

Duy Ly5D

Hoài niệm về dĩ vãng, điều gì khiến chú tự hào nhất hay những trải nghiệm gì đáng nhớ nhất trong cuộc đời, chú đã không ngần ngại cho biết:  “Nhìn lại cuộc đời tôi đã trải qua, tôi cảm thấy rất tự hào vì từ nhỏ đến lớn, với tâm tính hiền lành, tôi chưa làm điều gì tổn thương đến ai, ít nhất tôi cũng đã giúp ích được nhiều người trong khả năng của mình.

Chẳng hạn việc tôi đã đứng ra kêu gọi quyên góp ủng hộ Ban Tổ Chức xây dựng Kỳ Đài Việt Mỹ ở công viên Wesley Bolin Memorial Plaza trước dinh Thống đốc AZ.  Đây được xem là kỳ đài Việt Mỹ đầu tiên ở Hoa Kỳ, do công sức của chiến hữu Bùi Quang Lâm đã đứng ra vận động từ phía cộng đồng Việt Nam mình, cũng như tích cực làm việc chặt chẽ với Hội Cựu Chiến Binh Hoa Kỳ để xây dựng thành công kỳ đài Việt Mỹ duy nhất tại Arizona.  Tôi rất vui vì mình đã góp được một phần nho nhỏ vào việc làm ý nghĩa này.  Nào ngờ là sự đóng góp nhỏ nhoi của tôi đã được Ban Tổ Chức ghi nhận và khắc vào 2 bảng đồng còn lưu lại ở Kỳ Đài.  Có người đã nói đùa rằng, ông Lý chưa chết mà sao đã có bia đồng, trước dinh Thống đốc AZ.

Riêng với những trải nghiệm thì thật tình mà nói, tôi đã may mắn có được những trải nghiệm đáng nhớ nhất trong đời.  Đó là lần tôi được gặp mặt Đức Giáo Hoàng trong chuyến đi cùng phái đoàn Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển bay sang Vatican diện kiến Đức Giáo Hoàng.  Tôi vẫn còn giữ lại bằng khen do Đức Giáo Hoàng trao tặng.

Kế đến là chuyến lưu diễn Châu Âu năm 1989 cùng với Chí Tài, Trúc Hồ và một số anh chị em ca sĩ.  Sau show trình diễn ở Bá Linh, hôm sau chúng tôi đến chổ bức tường chia đôi ranh giới Đông Đức và Tây Đức, vừa bị đập đổ, kéo theo đoàn người đông đúc ồ ạt từ Đông Đức sang Tây Đức.  Hôm đó, tôi đã thuê búa đục một tảng đá làm kỷ niệm.  Không ngờ một ký giả nào đó đã chụp quang cảnh hôm đó, trong đó có tôi, làm thành poster.  Nhiều năm sau đó, trong một lần đi mua sắm yardsale, tôi tình cờ thấy bán bức tranh về bức tường Bá Linh có hình tôi trong đó.  Cô thấy đó có phải là sự tình cờ có ngẫu nhiên không?”

Duy Ly6 Cuối cùng, khi nghe tôi hỏi chú còn điều gì đã ấp ủ từ lâu nhưng chưa thực hiện được, chú cho biết trong lòng chú luôn muốn làm được điều gì đó giúp quang phục quê hương đất nước Việt Nam được phồn thịnh như dưới thời VNCH ngày xưa.  Tuy nhiên, sức người có hạn không biết đến ngày nhắm mắt có nhìn thấy được hoài bão này thành hiện thực không.  Còn mong ước cho riêng mình, chú muốn thực hiện một live show kỷ niệm 50 năm sân khấu của mình như một lời tri ân đến tất cả những người đã thương mến Duy Lý và song hành cùng Duy Lý trong suốt chặn đường 50 năm qua.

Cầu mong những hoài bão đó của chú sẽ sớm trở thành sự thật.  Câu chuyện của chú Duy Lý, hay cũng chính là câu chuyện của bao cựu quân cán chính QLVNCH, sinh ra trong khói lửa chiến tranh, hy sinh cả đời trai trẻ cầm súng bảo vệ quê hương miền Nam. Khi nước mất, nhà tan, lịch sử sang trang, cuộc đời của họ cũng nổi trôi theo vận nước.  Tôi chợt nhớ đến câu, “Nỗi buồn là di sản của quá khứ; sự nuối tiếc là nỗi đau của ký ức”.  Thật vậy, thế hệ của cha anh chúng ta đã mất mát quá nhiều, để cho thế hệ con em chúng ta có cơ hội làm nên lịch sử.  Mong rằng bài viết Tìm Vễ Dĩ Vãng này sẽ giúp quý độc giả cùng sống lại một thời quá khứ với khung trời đầy kỷ niệm, làm xoa dịu phần nào nỗi đau của ký ức và hướng về một tương lai sáng lạng hơn.  Mong lắm thay!

 

Author: Admin

Share This Post On
Wedding Photo, Engagement Photo, Birthday, Outdoor,
Share This