CA DAO, NẺO VÀO LỊCH SỬ Phần Một, Đoạn 6 NHÀ HỒ ĐẾN HẾT MINH THUỘC (1400- 1427)

 

ĐÀO ĐỨC CHƯƠNG        

  IV    -    BÌNH ĐỊNH VƯƠNG (1418- 1427)   Lê Lợi (黎 利) nguyên quán ở thôn Như Áng, nay thuộc xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa, làm chủ trại đất Lam Sơn huyện Lương Giang, nay thuộc xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Lê Lợi chuẩn bị cuộc khởi nghĩa thật chu đáo, ngoài việc binh lương, khí giới, còn thu dụng được nhiều hào kiệt như Lê Văn An, Bùi Quốc Hưng, Trịnh Khả, Đinh Lễ, Lê Văn Linh, Trịnh Lỗi, Lê Ngân, Lê Sát, Lê Thuận, Lý Triện, Nguyễn Xí, sau có thêm Nguyễn Trãi [28] và Trần Nguyên Hãn [29]. Mọi người nô nức về với ngọn cờ đại nghĩa của Lê Lợi: Người kéo về dằng dặc,                         Người nối đuôi nhau ùn ùn,                         Từ đất Đô Kỳ, Đô Lam kéo đến.                         Người Mường cũng vác dao, vác kiếm                         Để hòng giết giặc dâng đến mường xa cướp phá [30]. Vấn đề tâm lý chiến cũng được khai thác, thu phục nhân tâm; trong rừng, nhan nhản trên mặt lá cây xuất hiện tám chữ : Lê Lợi vi quân,                         Nguyễn Trãi vi thần. Vào sơ tuần tháng Giêng năm Mậu Tuất (1418), Lê Lợi khởi binh ở Lam Sơn Nhất cao là núi Lam Sơn                         Có ông Lê Lợi trong ngàn bước ra. xưng là Bình Định Vương (平 定 王), tướng sĩ quyết lòng tôn phù: Lạy trời cho cả gió lên,                                     Cho cờ vua Bình Định bay trên hoàng thành [31].

ảnh Bình Định Vương, thờ tại Tổ Đình Lê Tộc QN – ĐN.

Phạm Ngô Minh, “Nhân Vật Họ Lê Trong LSVN”, tr 686a.

  1    -     Giai đoạn trú quân ở Chí Linh (1418- 1424): Năm Mậu Tuất (1418), Lê Lợi 30 tuổi, dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn. Ngày mồng 9 tháng giêng, tướng Minh là Mã Kỳ (Ma Qi) đem quân đến đánh, Vương lui quân về Lạc Thủy (nay thuộc huyện Cẩm Thủy), mai phục đợi giặc đến xông ra đánh, thắng lớn ở trận đầu, chém hơn 3000 thủ cấp, rồi lui về Chí Linh [32] cố thủ: Ai lên Lạc Thủy Lam Sơn                         Nhớ Lê Thái Tổ chặn đường quân Minh. Tháng 4, Vương đem quân đánh đồn Nga Lạc (thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa), giết được tướng Minh là Nguyễn Sao (Ruan Chao) và 300 lính. Vì lực lượng hai bên quá chênh lệch, quân Minh có tới 10 vạn, còn Bình Định Vương chỉ vài ngàn quân nên phải rút về Chí Linh lần nữa. Giặc đem quân vây Chí Linh rất ngặt, tình cảnh thật nguy khốn. Lam Sơn Thực Lục [33] chép: “Nhà vua bèn vời các tướng mà bảo rằng: “Ai có thể thay mặc áo vàng của Trẫm, lĩnh 500 quân, hai thớt voi, đánh vào thành Tây Đô. Thấy giặc ra đối địch, thì tự xưng tên ‘Ta là chúa Lam Sơn đây!’ Để cho giặc bắt? Cho ta được náu mình, nghi binh, thu họp cả quân sĩ, để mưu tính việc về sau! “Các tướng đều không dám nhận lời. Chỉ có  Lê Lai thưa rằng: - Tôi bằng lòng xin thay mặc áo Nhà vua. Ngày sau Bệ Hạ gây nên Đế nghiệp, có được thiên hạ, thương đến công tôi, cho con cháu muôn đời được chịu ơn nước. Đó là điều tôi mong mỏi! “Nhà vua lạy Trời mà khấn rằng: - Lê Lai có công thay đổi áo. Sau này trẫm cùng con cháu, và các tướng tá, hay con cháu các công thần, nếu không thương đến công ấy, thì đền đài hóa ra rừng núi; ấn vàng hóa ra đồng sắt; gươm thần hóa ra đao binh! “Nhà vua khấn xong, Lê Lai liền đem quân đến cửa trại giặc khiêu chiến. “Giặc cậy quân mạnh xông đánh. Lê Lai cưỡi ngựa, phi vào giữa trận giặc, nói rằng: - Ta đây là chúa Lam Sơn! “Giặc bèn xúm lại vây, bắt lấy đem về trong thành, xử bằng hình phạt cực ác, ra hẳn ngoài những tội thường làm!” (hết trích) Quân Minh tưởng trừ được Lê Lợi, bèn rút quân về Tây Đô. Nhờ Lê Lai [34]  liều mình cứu chúa, đóng vai Kỷ Tín (Ji Xin) [35] ngày xưa, Bình Định Vương thoát chết để lãnh đạo cuộc kháng chiến và hứa “sau này con cháu ta phải giỗ Lê Lai trước ngày giỗ của ta.” Sau Lê Thái Tổ băng nhằm vào ngày 22 tháng 8 nhuần năm Quý Sửu (1433), tôn thất nhà Lê giữ lời, cúng Lê Lai ngày 21 tháng 8, nên trong dân gian có câu: Hăm mốt Lê Lai,                         Hăm hai Lê Lợi. Người đời sau, cũng có câu ca lan truyền: Lê Lai, giỗ trước một ngày                         Đền ơn “đổi áo” lệ này khắc ghi.

 Đền thờ Trung Túc Vương Lê Lai tại làng Tép,

xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.

Ảnh: Tuấn CaNon chụp 2012, tải lên Google.

2    -     Giai đoạn bình định phía Nam (1424- 1426): Tháng 9 năm Giáp Thìn (1424), Bình Định Vương hội các tướng ở Lô Sơn (Lư Sơn, Thanh Hóa), bàn kế tiến thủ. Quan Thiếu úy Lê Chích [36] thưa: “Nghệ An là nơi hiểm yếu; đất rộng, người đông, nay ta hãy vào lấy Trà Long (phủ Tương Dương), rồi hạ thành Nghệ An, để làm chỗ trú chân đã, nhiên hậu sẽ quay trở ra đánh lấy Đông Đô, như thế thiên hạ có thể bình được.” [37] Vương nghe theo, cho quân tiến về Nam, đánh lấy đồn Đa Căng (nay xã Thọ Nguyên, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa), hạ đồn Trà Long (châu Trà Long, phủ Nghệ An). Rồi tháng Giêng năm Ất Tỵ (1425) Vương cho vây thành Nghệ An, tháng 5 năm ấy lại vây thành Tây Đô, tháng 7 đánh lấy Tân Bình và Thuận Hóa. Từ ấy, uy danh Vương mỗi ngày một lên, dân chúng tôn là “Đại Thiên Hành Hóa” (代  天 行 化) nghĩa là thay trời làm mọi việc. Cứ theo Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca, trang 161, Mã Kỳ (Ma Qi) tử trận tại Hà Tĩnh  trong chiến dịch này: Lạc Xuyên [38] đầu giết Mã Kỳ                         Nghệ, Thanh một dải thu về bản chương [39] Nhưng theo các tài liệu chính sử xưa và nay, Mã Kỳ (Ma Qi) vẫn còn sống cho đến khi về nước.   3    -     Giai đoạn tổng tấn công ra Bắc (1426- 1427): Tháng 8 năm Bính Ngọ (1426), Bình Định Vương cho quân tiến ra Đông Đô nhưng bị trở ngại bởi thành Cổ Lộng [40] án ngữ trên bờ sông Đáy, giữ cửa ngõ phía Nam của thành Đông Quan [41]. Bà Lương Thị Minh Nguyệt, người xã Chuế Cầu huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, cùng chồng là Đinh Công Tuấn mở quán rượu thịt ở gần thành, quân Minh thường đến ăn uống, lâu ngày thành quen, không còn ngờ vực gì nữa. Bà mật kế với nghĩa quân, đêm hôm đó, mở tiệc thết đãi quan quân nhà Minh, chuốc rượu say mèm đến nỗi không về đồn được, giặc bèn chui vào bao tải ngủ để tránh muỗi. Bà sai gia nhân buộc chặt đầu bao tải, vứt cả xuống sông và báo hiệu cho nghĩa quân xông vào hạ thành dễ như trở bàn tay. Sau, bà được Lê Thái Tổ phong Kiến Quốc Phu Nhân (建 國 夫 人), Lê Thánh Tông phong phúc thần làng Chuế Cầu và sai nhà sử học Lê Tung làm bài minh, được người đời dịch Nôm truyền tụng qua danh hiệu “Người Đàn Bà Hạ Thành Cổ Lộng” như sau: đình Ruối

Đình Ruối ở thôn Ngọc Chuế, xã Yên Nghĩa,

huyện Ý Yên, Nam Định, là đền thờ Nhị vị Phúc thần

Lương Thị Minh Nguyệt. Ảnh từ Google.

Giỏi thay liệt phụ,                                     Mạnh ngang vạn binh                                     Tại thành Cổ Lộng,                                     Giặc Minh hoành hành,                                     Vua ta khởi nghĩa,                                     Quyết chí diệt Minh.                                     Bà giúp thiết kỵ,                                     Thắt túi nhổ thành,                                     Trang sử xin chép,                                     Trưng Vương ngang danh,                                     Miếu đền tế lễ,                                                 Muôn đời hùng anh. Nhờ phá được thành Cổ Lộng, tháng 10 năm ấy, quân ta thênh thang tiến ra Đông Đô, mở mặt trận Tụy Động [42], chém được Thượng thư Trần Hạp (Chen He) và Nội quan Lý Lương (Li Liang), giặc chết 5 vạn và bị bắt sống hơn 1 vạn. Mã Kỳ (Ma Qi) đóng quân ở Thanh Oai, đại bại phải một mình một ngựa thoát thân về hội với Vương Thông (Wang Tong) ở bến Cổ Sở [43]. Quân Minh xéo lên nhau và nhảy xuống sông chết đuối nghẽn cả dòng nước. Trận Tụy Động, quân ta thắng lớn nhất kể từ ngày Vương khởi binh, và cũng từ đó Đông Đô bị vây chặt. Ngày 22 tháng 10 năm Bính Ngọ, Bình Định Vương ra Đông Đô, đặt đại bản doanh tại Bồ Đề, tức bến đò ở xã Phú Viên huyện Gia Lâm tỉnh Bắc Ninh, nay thuộc thành phố Hà Nội. Vương ra quân lệnh rất nghiêm, khiến dân chúng cảm tình với quân kháng chiến, bấy giờ có câu ca dao rất thời sự: Nhong nhong ngựa Ông trở về,                         Cắt cỏ Bồ Đề [44] cho ngựa Ông ăn.   đường qua ải Chi Lăng

Đường qua ải Chi Lăng, nơi Liễu Thăng rơi đầu

Ảnh từ Google.

Năm Bính Ngọ (1427), vua Minh sai Thái tử Thái phó Liễu Thăng (Liu Sheng) [45] cùng Tham tướng Lương Minh (Liang Ming), Đô đốc Thôi Tụ (Cui Xiu), Binh bộ Thượng thư Lý Khánh (Li Qing), Công bộ Thượng thư Hoàng Phúc (Huang Fu) và hữu Bố chánh sứ Nguyễn Đức Huân (Ruan De Xun) thống lĩnh 10 vạn quân và 2 vạn ngựa tiến vào nước ta qua cửa Pha Lũy (ải Nam Quan). Cánh quân thứ 2, do Thái phó Kiềm quốc công Mộc Thạnh (Mu Cheng) cùng Tham tướng Từ Hanh (Ci hay Xu Heng), Đàm Trung (Tan Zhong) đi đường Vân Nam (Yun Nan) sang cứu viện Đông Quan: Vương Thông bền giữ cô thành,                         Viện binh hai đạo Bắc đình tiếp sang [46]. bia lưu niệm

Bia lưu niệm Ải Chi Lăng.

Ảnh, Trần Đại Sĩ, từ Google.

Nghe tin, Bình Định Vương sai Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Đinh Liệt, Lê Thụ đem hơn 1 vạn quân và 5 thớt voi lên phục sẵn cửa ải Chi Lăng (thuộc Châu Ôn, tỉnh Lạng Sơn); lại sai Lê Lý, Lê Văn An đem 3 vạn quân tiếp ứng. Ngày 20 tháng 9 năm Đinh Mùi (1427), Liễu Thăng (Liu Sheng) đến Chi Lăng [47], thấy Trần Lựu ra đánh rồi thua chạy, bèn cùng 100 kỵ binh đuổi theo quyết bắt sống, đến chỗ bùn lầy lại gặp phục binh đổ ra đánh, Liễu Thăng bị chém ở Mã Yên sơn. Thừa thế, quân ta đánh tràn, Lương Minh (Liang Ming) tử trận, Lý Khánh (Li Qing) tự vẫn, Thôi Tụ (Cui Xiu) và Hoàng Phúc (Huang Fu) bị bắt sống. Nghe tin cánh quân Liễu Thăng (Liu Sheng) đại bại, Mộc Thạnh (Mu Cheng) vội rút quân; nhưng Trịnh Khả và Phạm Văn Xảo đã đón sẵn, chém hơn một vạn, bắt sống cả người và ngựa mỗi thứ hơn một nghìn. Chi Lăng các đạo phục binh                         Liễu Thăng, Mộc Thạch liều mình nẻo xa [48]. Năm 1428, hòa bình lập lại, quân Minh được Bình Định Vương cấp cho phương tiện về nước. Bình Ngô Đại Cáo (平 吳 大 告) của Nguyễn Trãi viết [49]: chân dung Nguyễn Trãi

Chân dung Nguyễn Trãi (1380- 1442)

Ảnh từ Vi.wikipedia

 

Tham tướng Phương Chính, Nội quan Mã Kỳ, tiên cấp hạm ngũ bách dư sưu, ký độ hải nhi do thả hồn phi phách tán; 參 將 方 政 , 內 官 馬 騏 , 先 給  艦 五 百 餘 艘 , 既 渡 海 而 猶 且 魂 飛 魄 散 ; Tổng binh Vương Thông, Tham chính Mã Anh, hựu cấp mã sổ thiên dư thất, dĩ hoàn quốc nhi ích tự cổ lật tâm kinh. 總 兵 王 通 , 參 政 馬 瑛 , 又 給 馬 數 千 餘 匹 , 已 還 國 而 益 自 股 慄 心 驚 . Ngô Tất Tố dịch: Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc; Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run.   V    -    NHÌN LẠI MỘT GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ   Trên đây là giai đoạn lịch sử Việt Nam từ lập quốc đến Minh thuộc. Đến nay (2014) ta có 4893 năm văn hiến, đoạn đường lịch sử từ 2879 trước CN đến 1428, ngót 4307 năm, trong đó dành 2768 năm cho việc lập quốc và ổn định xứ sở, tiếp đến là 1042 năm bị Bắc thuộc, rồi đến 476 năm tự chủ và sau cùng là thời kỳ chống Minh suốt 20 năm trời. Xét về địa lý, nước ta nằm sát nách nước Tàu, theo thống kê hiện nay, diện tích nước Tàu gấp hơn 28 lần nước ta, dân số gấp hơn 16 lần, lại có tham vọng bành trướng. Còn dân tộc ta vốn truyền thống bất khuất, tinh thần tự chủ và ý chí quật khởi, nên dù bị Tàu đô hộ hơn 1000 năm với chính sách đồng hóa liên tục, chúng ta vẫn không bị mất gốc và quyết giành lại nền độc lập cho đất nước. Thời kỳ độc lập trong giai đoạn lịch sử này, kể từ Dương Diên Nghệ (931) đến đời Hồ Hán Thương (1407), nước ta trưởng thành nhanh chóng. Nhất là thời Trần, có thể gọi là Bước Nhảy Vọt Văn Hóa (1225- 1400) đã đưa nước ta phát triển đến mức độ hoàn chỉnh về mọi mặt: Văn học, Nghệ thuật, Giáo dục, Tôn giáo, Chính trị, Quân sự, Ngoại giao, Kinh tế, Thương mại và Pháp luật. Dù giai đoạn lịch sử này ở vào thời đại cổ xưa và ca dao sau này mới xuất hiện, nhưng vẫn phản ánh lịch sử tương đối đầy đủ. Có điều sự kiện lịch sử đôi khi trùng lặp, ca dao lại không xuất xứ, khó xác định được câu ấy đề cập thời điểm nào. Chẳng hạn câu: “Đánh giặc thì đánh giữa sông, Chớ đánh trong cạn phải chông mà chìm”, bởi Ngô Quyền năm 937 và Trần Hưng Đạo năm 1287 đều dùng cọc nhọn bịt sắt đóng trên sông Bạch Đằng để tiêu diệt ngoại xâm, cả hai trận đều thắng lớn và kết thúc chiến tranh. Từ năm 1428, lịch sử Việt Nam sang trang, mở đầu kỷ nguyên Nhà Hậu Lê vàng son với những câu ca dao nóng bỏng thời sự, xin hẹn ở chương kế tiếp.               (Hết Phần I, đón xem Phần II, bắt đầu từ đoạn 7)     ĐÀO ĐỨC CHƯƠNG     ---------------- GHI CHÚ ---------------   [28] Nguyễn Trãi ( , 1380- 1442), ở thôn Nhị Khê, xã Nhị Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây. Nhưng nguyên quán ở làng Chi Ngại, huyện Phượng Sơn, lộ Lạng Giang; nay thuộc Chí Linh, Hải Dương. Ông là con trai của danh sĩ Nguyễn Phi Khanh và bà Trần Thị Thái, và là cháu ngoại của Tư Đồ Trần Nguyên Đán. Năm Canh Thìn (1400) ông đỗ Đệ Nhị giáp khoa thi Thái học sinh, đời nhà Hồ lúc 20 tuổi. Năm 1407, giặc Minh sang cướp nước ta. Ông tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và dâng Bình Ngô Sách, được Lê Lợi trọng dụng, trở thành một mưu sĩ tài ba của nghĩa quân. Nhưng thời điểm ông gia nhập nghĩa quân, các tài liệu ghi không thống nhất: Một số học giả cho rằng ông có mặt từ lúc Hội Thề Lũng Nhai (1416). Đại Việt Thông Sử cho rằng Nguyễn Trãi có mặt trong ngày dựng cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn vào mồng 2 tháng Giêng năm Mậu Tuất (1418). Một số tài liệu khác khẳng định năm 1420 hoặc sau đó một chút ông mới tham gia. Và theo Đinh Tộc Ngọc Phả của dòng họ Đinh Liệt thì Nguyễn Trãi và Trần Nguyên Hãn đến Lỗi Giang gia nhập nghĩa quân vào mùa Xuân năm 1423. Năm 1428, cuộc kháng chiến thành công, ông là vị khai quốc công thần, được phong tước Quan Phục Hầu và cho theo họ vua. Năm 1442, ông bị oan trong vụ án Lệ Chi viên, bị tru di tam tộc. Năm 1464, vua Lê Thánh Tông xuống chiếu giải oan cho ông.  Nguyễn Trãi là nhà văn hóa lớn của Việt Nam.  [29] Trần Nguyên Hãn (陳元扞, ?- 1429), người ở Lập Thạch, phủ Vĩnh Tường, trấn Sơn Tây. Vốn dòng dõi Thượng Tướng quân Trần Quang Khải, và nội tôn của Tư đồ Trần Nguyên Đán. Ông theo giúp Lê Lợi kháng Minh, lập được nhiều công to, thăng đến chức Tư đồ. Ông từng chỉ huy các trận đánh lớn như ở Nghệ An (1425), Đông Đô (1426), Xương Giang (1427) nên được phong Thái úy (1427). Lê Thái Tổ lên ngôi (1428), ông được giữ chức Tả tướng quốc (Khâm Định Việt Sử ghi là Hữu tướng quốc) và cho theo họ vua, được ít lâu, xin về trí sĩ. Sau có người gièm pha, ông bị vua nghi kỵ, cho lực sĩ đến bắt. Trên đường giải về kinh, tại bến đò xã Thượng Đông (Sơn Tây) thuyền bị đắm chết (1429). Đến đời Lê Thánh Tông (Từ Điển Nhân Vật Lịch Sử Việt Nam ghi là Lê Nhân Tông) án oan được cứu xét, ông được phục hồi chức tước như cũ và được truy phong. [30] Phạm Ngô Minh và Lê Duy Anh; Nhân Vật Họ Lê Trong Lịch Sử Việt Nam (Nxb Đà Nẵng, 2001), trang 528. [31] Nguyễn Xuân Nhân, Văn Học Dân Gian Tây Sơn (Nxb Trẻ, 1999), trang 25, cho rằng câu ca dao “Lạy trời cho cả gió lên, Cho cờ vua Bình Định bay trên kinh thành”  đề cập đến sự kiện Nguyễn Nhạc lên ngôi vua vào năm Mậu Tuất (1778), đặt niên hiệu là Thái Đức ( ), đổi tên Đồ Bàn là Hoàng Đế thành. Căn cứ vào chính sử, năm Mậu Tuất (1418) Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa chống Minh, xưng là Bình Định Vương ( ), trong câu ca dao này có ba chữ “vua Bịnh Định”, hợp với việc Lê Lợi xưng vương. Còn nếu gán ghép ba chữ “vua Bình Định” là Nguyễn Nhạc thì sai với thực tế, vì thời Nguyễn Nhạc, vùng đất này gọi là Qui Nhơn và Nguyễn Nhạc đã dùng thành Qui Nhơn (tức Đồ Bàn cũ) làm kinh đô và đổi là Hoàng Đế thành. Thời ấy (1778) chưa có địa danh Bình Định thì làm sao gọi là vua đất Bình Định được. Mãi đến năm Kỷ Tỵ (1799), Nguyễn Ánh chiếm được thành Qui Nhơn từ quân Tây Sơn, cải danh là thành Bình Định với ý nghĩa là đã dẹp yên loạn, và gọi đất Qui Nhơn là trấn Bình Định. [32] Chí Linh: Tên ngọn núi thuộc dãy Chí Linh hay còn gọi là núi Bù Ginh, đỉnh cao nhất là 1291 mét, ở tả ngạn sông Chu, thuộc xã Gia An, châu Lang Chánh, phủ Thanh Đô, trấn Thanh Hóa; từ năm 1945 thuộc huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa. Núi Chí Linh nổi tiếng địa thế hiểm trở, lại có sông Âm bắt nguồn từ phía Nam giáp Lào, chảy vòng quanh núi.  Lê Lợi ba lần lui quân về đây ẩn náu, bảo toàn lực lượng, và Lê Lai liều mình cứu chúa cũng từ núi này. [33] Lam Sơn Thực Lục, là bộ sách đầu tiên ghi chép tóm tắt quá trình Khởi nghĩa Lam Sơn và cuộc kháng chiến chống quân Minh của Lê Lợi. Nguyên bản viết bằng chữ Nho, Nguyễn Trãi biên soạn, Lê Thái Tổ đề tựa, hoàn thành năm 1431. Về văn bản, Lam Sơn Thực Lục, tuy người đời sau có sửa chữa thêm bớt phần nào, nhưng vẫn là tài liệu xưa nhất và tác giả là chứng nhân trong cuộc Khởi nghĩa, nên vẫn có giá trị chân thực, đáng tin cậy. Năm 1944, tác phẩm được Mạc Bảo Thần dịch, Nhà xuất bản Tân Việt tái bản lần thứ ba vào năm 1956. Nhóm Công Đệ chuyển sang ấn bản điện tử năm 2001, Lê Bắc điều hợp năm 2001, Viện Việt Học ở Westminster (California) đăng tải. [34] Lê Lai ( ,?- 1418) là con của Lê Kiều, người gốc Mường, ở làng Dựng Tú (hay Dụng Tú) thuộc huyện Lương Giang (địa danh thời Lý Trần) đổi là Thụy Nguyên (thời Lê) thuộc phủ Thiệu Hóa, xứ Thanh Hoa; nay là huyện Thiệu Hóa (từ cuối năm 1945), tỉnh Thanh Hóa. Năm 1416, ông có mặt trong Hội Thề Lũng Nhai, 19 người gồm: Phụ đạo lộ Khả Lam là Lê Lợi, Lê Lai, Lê ThậnLê Văn AnLê Văn Linh, Trịnh Khả, Trương Lôi, Lê Liễu, Bùi Quốc Hưng, Lê Ninh, Lê Hiểm, Vũ UyNguyễn TrãiĐinh LiệtLê Nhân Chú, Lê Bồi, Lê Lý, Đinh Lan, Trương Chiến, cùng thề sống chết có nhau, nguyện chung sức đánh đuổi quân Minh ra khỏi nước Nam. Lê Lai có 3 người con đều tham gia khởi nghĩa Lam Sơn và chết vì nước: Lê Lư tử trận năm 1925, Lê Lô tử trận năm 1924, Lê Lâm năm 1430 đi đánh Ai Lao bị chết vì trúng chông độc. Anh ông là Lê Lan cũng tử trận năm 1425. Sự kiện “Lê Lai liều mình cứu Chúa” là hẳn nhiên không thể chối cãi, có điều cái chết của Lê Lai do quân Minh hay Lê Lợi giết (?) vẫn là một nghi án. Các tài liệu sau đây đều công nhận Lê Lai bị quân Minh vây bắt và đã giết: - Thiên Nam Trung Nghĩa Thật Lục của Phạm Phi Kiến (đỗ Tiến sĩ năm 1623, đời Lê Thần Tông). - Trùng San Lam Sơn Thực Lục, niên hiệu Vĩnh Trị (1676- 1680), Hồ Sĩ Dương vâng mệnh vua Lê Hy Tông biên soạn. - Đại Việt Thông Sử, Lê Quý Đôn biên soạn năm 1759 (đời Lê Hiến Tông). Lê Mạnh Liêu dịch (Hà Nội, nxb Khoa Học Xã Hội) 1978. - Đại Việt Sử Ký Tiền Biên, Ngô Thì Sĩ biên soạn, Ngô Thì Nhậm hiệu đính, khắc in năm 1800 (thời Tây Sơn). - Việt Sử Tiêu Án, Ngô Thì Sĩ biên soạn, hoàn thành 1775. - Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Quốc Sử Quán Triều Nguyễn biên soạn hoàn thành năm 1881. Sự kiện Lê Lai “Cứu Chúa” xảy ra thế kỷ 15, nhưng các bộ sử kê trên ra đời mãi sau này, sớm nhất là sách Thiên Nam Trung Nghĩa Thật Lục của Phạm Phi Kiến vào thế kỷ 17. Duy có hai bộ sách được biên soạn trong thế kỷ 15, cần được bàn đến: - Lam Sơn Thực Lục (1431) chép:“Giặc bèn xúm lại vây, bắt lấy đem về trong thành, xử bằng hình phạt cực ác, ra hẳn ngoài những tội thường làm!” (bản dịch, trang 9). Tác phẩm này chỉ nói Lê Lai phải chịu cực hình, không xác định rõ đã chết. - Đại Việt Sử Ký Toàn Thư của Ngô Sĩ Liên (từng tham gia trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn,  giữ chức vụ thư ký trong nghĩa quân) hoàn thành năm 1479 (Hồng Đức thứ 10), chép từ Hồng Bàng đến năm 1428, không thấy đề cập đến sự kiện Lê Lai tự nguyện “đổi áo cứu chúa” ngược lại chép Lê Lai bị Lê Lợi giết ngày 13 tháng Giêng năm Đinh Mùi (1427): “Giết Tư mã Lê Lai, tịch thu gia sản, vì Lai cậy có chiến công, nói năng khinh mạn.” (Bản Kỷ Toàn Thư, quyển X, Kỷ Nhà Lê, tờ 27 b. Hoàng Văn Lâu dịch, tập II, trang 264). Một dấu hỏi lớn, việc “Lê Lai đổi áo” là có thật, là sự kiện lịch sử góp phần quan trọng cho cuộc kháng chiến của Lê Lợi thành công, mở ra triều đại Hậu Lê, mà không thấy Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhắc đến? Nhưng có điều lưu ý, nhận thấy Đại Việt Sử Ký Toàn Thư biên niên, có năm ghi rất nhiều sự kiện, có năm ghi rất ít. Phải chăng nguyên bản bị người đời sau làm rơi lạc một số trang?  Một dấu hỏi lớn nữa, ngày 13 tháng giêng năm Đinh Mùi (1427), Lê Lai bị Lê Lợi giết vì tội “nói năng khinh mạn.” Phải chăng trong đám tướng sĩ của Lê Lợi có nhiều người trùng tên “Lai” và cũng lập công lớn, được đổi sang quốc tính, nên “Tư mã Lê Lai” khác với “Lê Lai cứu chúa.” Cũng có thể “Lê Lai cứu chúa” bị quân Minh vây bắt, trong quá trình chịu cực hình tra khảo thì trốn thoát được, trở về với nghĩa quân. Nhưng vì ỷ lập được công lao lớn, tỏ ra khinh mạn, bị Lê Lợi giết để giữ nghiêm quân lệnh? Như thế, công được đền đáp xứng đáng, nhưng tội phải trị, công tội rõ ràng, không thể lẫn lộn được. Hiện nay chưa có đáp số thích đáng, mong tìm được những tài liệu khả tín để khép lại nghi án lịch sử này.                [35] Kỷ Tín (Ji Xin): Một trung thần của nhà Hán, khi Hán Bái Công (tức Lưu Bang) bị Hạng Võ vây khốn ở Vinh Dương không đường trốn thoát. Tình thế rất nguy cấp, Kỷ Tín giả làm Bái Công, mặc long bào, ngồi long xa của Đại Vương, mở cửa thành phía Đông thoát ra cho quân giặc bắt. Trong khi đó, Hán Vương và các quan văn võ, tướng sĩ, cùng toán kỵ mã lẻn ra cửa Tây, hướng về Thành Cao lánh nạn. Sau Lưu Bang lấy được thiên hạ, lên ngôi Hoàng Đế năm 202 trước Tây lịch, tức Hán Cao Tổ, cho lập miếu thờ Kỷ Tín ở Thuận Khánh, đặt tên là Trung Hựu. [36] Nguyễn Chích ( ,1382- 1448), được quốc tánh nên gọi là Lê Chích ( ), quê quán ở xã Đông Ninh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Năm 1418, Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn (huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa), nghe thanh thế của Nguyễn Chích, sai người mang thư đến mời ông tham gia. Ông chấp thuận, nhưng trong thời gian đầu vẫn đóng quân ở căn cứ Hoàng Nghiêu (núi Hoàng và núi Nghiêu là vùng giáp 3 huyện Đông Sơn, Nông Cống và Triệu Sơ). Cuối năm 1420, ông mang toàn bộ lực lượng đến Mường Nanh gia nhập với Lê Lợi. Ông có công bàn với Lê Lợi thay đổi chiến lược là đánh chiếm Miền Nam rồi mới tiến quân ra Bắc. [37] Trần Trọng Kim; Việt Nam Sử Lược, trang 209. [38] Lạc Xuyên: tên một làng thuộc tổng Lạc Xuyên, huyện Kỳ Hoa, phủ Hà Hoa, trấn Nghệ An. Nay thuộc huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh. [39] Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái; Đại Nam Quốc sử diễn ca, trang 161. [40] Cổ Lộng: thành do quân Minh đắp, ở làng Bình Cách, tổng Điều Hộ, huyện Ý Yên, phủ Nghĩa Hưng, trấn Sơn Nam Hạ; nay thuộc huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Thành nằm trên đường đi Ninh Bình và cách Phủ Lý 17 km. [41] Đông Quan: nguyên là thành Đại La thuộc huyện Tổng Bình do Cao Biền đắp năm 866. Năm 1010, Lý Thái Tổ dời kinh từ Hoa Lư về thành Đại La và đổi tên là Thăng Long, còn gọi là Nam Kinh, Trung Kinh, Đông Đô. Thời Minh thuộc, cải danh là thành Đông Quan. Năm 1430, Lê Thái Tổ đổi là Đông Kinh. [42] Tụy Động thuộc tổng Mỹ Lương, huyện Chương Đức, trấn Sơn Nam; sau đổi huyện Chương Mỹ, tỉnh Hà Đông; nay nhập với Sơn Tây thành tỉnh Hà Tây. [43] Bến Cổ Sở: tức bến Giá xã Cổ Sở, sau là Yên (An) Sở, tổng Dương Liễu, huyện Đan Phượng, tỉnh Hà Đông; nay thuộc huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây, cách sông Đáy 1 km. [44] Bồ Đề: tên làng ở phía Bắc sông Nhị Hà (là đoạn sông Hồng chảy qua địa phận thành Thăng Long). Làng Bồ Đề ở ngay đê sông Hồng, bên kia cầu Chương Dương. Sở dĩ có tên “Bồ Đề” vì ngày xưa làng này có hai cây bồ đề sống lâu đời nên rất cao lớn, từ xa vẫn nhìn thấy. [45] Liễu Thăng (Liu Sheng), tướng nhà Minh, tước An Viễn Hầu, tử trận ở Ải Chi Lăng ngày 10 tháng 10 năm 1427 trong khi đem quân viện sang nước ta để cứu Vương Thông đang bị vây ở thành Đông Quan. [46, 48] Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toái; Đại Nam Quốc Sử Diễn Ca, đều cùng trang 162. [47] Ải Chi Lăng: ở xã Chi Lăng, tổng Quang Lang, châu Ôn, xứ Lạng Sơn; nay thuộc huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn. Đây là một thung lũng hẹp, khí hậu độc, thế đất hiểm, nằm dọc theo hướng Bắc Nam dài khoảng 4 km, hai bên toàn núi đá dốc đứng, có chỗ hẹp đến 1 km. Cửa ải phía Bắc gọi là Quỷ Môn Quan, có núi Hàm Quỷ và núi Cai Kinh. Cửa phía Nam có núi đá Mã Yên cao 40 mét, chu vi 300 mét, quanh chân núi là cánh đồng lầy lội, muốn qua phải bắc cầu mới đi được. Nơi đây Lê Sát chém Liễu Thăng năm 1427. Sau sứ Trung Quốc đi qua đó gọi là Úy Thiên Quan. Ải Chi Lăng cách Pha Lũy (ải Nam Quan) 63 km về phía Nam, cách tỉnh lỵ Bắc Giang 58 km về phía Đông Bắc và cách huyện lỵ Chi Lăng ở Đồng Mỏ chừng 7 km về phía Tây Nam. [49] Bản dịch trong Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, trang 231.       Đào Đức ChươngTên thật: Đào Đức Chương, Bút hiệu: Việt Thao, tuổi Đinh Sửu.  Nguyên quán ở Vinh Thạnh, Phước Lộc, Tuy Phước, Bình Định.  Ông từng là Cựu Giám Học Trường Trung Học Công Lập Đệ Nhị Cấp Đào Duy Từ, Bình Định (1972- 1975).  Ông sang định cư tại San Jose (Hoa Kỳ) từ ngày 8- 7- 1993. Những hoạt động văn học:
  • Giải nhì về thơ Hội Tết Giáp Tuất (1994) do Liên Hội Người Việt Quốc Gia  Bắc California tổ chức tại San Jose.
  • Tham gia Hội Văn Học Nghệ Thuật Thi Đàn Lạc Việt từ 1995- 2001.
  • Gia nhập Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại từ 1996- 2011
  • Ban Biên Tập: Các Tạp Chí Làng Văn (Canada) từ 1994, Nguồn Sống (San Jose, CA) 1996, Tâm Giác (Germany) 2005, Chuyên San Dòng Sử Việt (Alameda, CA) 2007 (ghi năm bắt đầu tham gia).
  • Nhóm thực hiện: Niên san Bình Định Bắc California từ 2001.
  • Cộng tác:
a/ Việt Nam Nhật Báo (San Jose, CA) 1996. b/ Các Tạp chí: Văn Uyển (San Jose, CA) 1994, Thế Kỷ 21 (Westminster, CA) 1998, Văn Học (Garden Grove, CA) 2006, Tin Văn (Houston TX) 2006, Cỏ Thơm (Virginia) 2006, Văn Hữu (Seattle, WA) 2009. c/ Các Đặc San: Tây Sơn Bình Định (Nam California) 1995, Cường Để & Nữ Trung Học (Houston, TX) 1999, Liên Trường Lại Giang (Nam Cali) 2000, Quang Trung & Tây Sơn (Houston, TX) 2000, Liên Trường Qui Nhơn (Nam Cali) 2006. d/ Diễn đàn Cuongde.org từ 19- 11- 2009. đ/ Việt Nam Văn Hóa Và Môi Trường, gồm nhiều tác giả; Westminster, Viện Việt Học xuất bản, 2012. 11 -  Sách biên khảo đã xuất bản (viết chung với Mộng Bình Sơn): - Nhà Văn Phê Bình (1996)                         - Thi Ca Việt Nam Thời Cần Vương (1997).              

Author: Chau Pham

Share This Post On
Wedding Photo, Engagement Photo, Birthday, Outdoor,
Share This